Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2008 - Tập 12 - Số 1
ĐẶC TÍNH KHÁNG LAMIVUDINE TRÊN BỆNH NHÂN VIÊM GAN B MẠN KHÔNG ĐÁP ỨNG VỚI ĐIỀU TRỊ TẠI BV. BỆNH NHIỆT ĐỚI

Phạm T Lệ Hoa, Nguyễn Hữu Chí, Cao Ngọc Nga, Nguyễn T Cẩm Hường, Phạm Hùng Vân

TÓM TẮT :

Đặt vấn đề: Lamivudine được dùng đơn trị liệu viêm gan B mạn từ cuối thập niên 1990 tại VN, gây đáp ứng mạnh và hữu hiệu nhưng mất dần khi dòng virút kháng thuốc xuất hiện và trở nên ưu thế. Tỷ lệ kháng Lamivudine tăng dần theo thời gian trị liệu gồm 4 vị trí đột biến chủ yếu trên cấu tạo gen polymerase (173, 180, 204, 207). Tỷ lệ hiện diện các đột biến này mới được vài báo cáo tại Việt Nam. 
Mục tiêu: Mô tả tỷ lệ và đặc điểm các kiểu đột biến gen kháng Lamivudine trên bệnh nhân chưa đáp ứng với trị liệu Lamivudine >12 tháng. 
Phương pháp: Khảo sát mô tả cắt ngang thực hiện tại BV Bệnh Nhiệt Đới từ tháng 06/2006 đến tháng 12/2006. Xét nghiệm xác định đột biến kháng Lamivudine được thực hiện bằng kỹ thuật giải trình tự phát hiện kháng hoàn toàn và không hoàn toàn (với khả năng phát hiện chủng kháng không hoàn toàn khi tỷ lệ chiếm ≥15% quần thể chung) Kết quả: Có 146 ca viêm gan B mạn được xác định không đáp ứng với trị liệu Lamivudine >12 tháng. Tỷ lệ có ít nhất một điểm đột biến trên polymerase của HBV là 34,9% (51/146 ca). Kiểu đột biến chính M204V/I gặp nhiếu nhất 77 /146 ca (24,7% có đột biến hoàn toàn và 28,1% có đột biến không hoàn toàn). Kết hợp đột biến M204V/I với L180M có tỷ lệ ưu thế (18/24 ca) trong các trường hợp có nhiều đột biến. Kiểu gen B có tỷ lệ đột biến cao hơn (67%) so với kiểu gen C (34%). Kháng không hoàn toàn với hiện diện song song chủng hoang dại và kháng thuốc cũng hay gặp trong kiểu đột biến chính (37/56 ca M204I và 4/21 ca M204V). 
Kết luận: Đột biến trên polymerase được chọn lọc dưới áp lực của Lamivudine gặp với tỷ lệ 34,9% trên người trị liệu lamivudine trên 12 tháng. Kiểu đột biến M204V/I chiếm ưu thế. Kiểu gen B có tỷ lệ đột biến cao hơn. Có tình trạng kháng không hoàn toàn nhất là trong kiểu đột biến chính M204I và M204V. Tình trạng kháng thuốc kiểu gen cần được lưu ý bởi các thầy thuốc lâm sàng trong những trường hợp không đáp ứng với điều trị lamivudine kéo dài để định hướng cho việc thay đổi thuốc trị liệu.

ABSTRACT :

Background: Lamivudine was the first oarl nucleoside analogue monotherapy for chronic hepatitis B in VietNam since 1992. However, the response will fade away with clinical deterioration as the HBV mutants become prominent. The rate of lamivudine resistance increased with the duration of treatment. The resistance mutations on the polymerase gene, like rt173, rt180, rt204 and rt207 have aldready been documented. The preliminary results of the study on HBV resistannce in HCM city has just been reported. 
Objectives: To describe the rates and characteristics of lamivudine resistant mutations in patients with lamivudine treatment-on >12 months. 
Methods: The cross-sectional study was done in the out-patient clinic at Hospital for Tropical Diseases from June 2006 to December 2006. The PCR-based sequencing technique were applied to detect the complete and heterozygote or mixed mutation in the polymerase. 
Results: 146 cases were enrolled in our study. 51/146 (34.9%) cases with at least one mutation were detected. The rate of primary resistance mutation rtM204V/I were highest: 24.7% complete and 28.2% mixed. The double mutation rtM204V/I + rtL180M (18/24 cases) were prominent among the double or triple ones. HBV genotype B had higher rate of mutation in comparison with HBV genotype C (67% vs 34%). Co-existence of wild type and mutants were also common in the primary resistance mutation (37/56 cases with rtM204I and 4/21 cases with rtM204V). 
Conclusion: The rate of resistance mutation on the polymerase gene were 34.9% in the lamivudine-treated patients with the duration more than 12 months. The rtM204V/I was classified in the first rank. The mutation rate of HBV genotype B was higher than HBV genotype C. The high rate of co-existence of wild type and mutants, especially with rtM204V/I was observed in our study. The genotypic resistance should be paid attention by the clinician, especially in poor responders or refractory cases in order to select an rational strategy for the individual cases.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF