Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2009 - Tập 13 - Số 1
ĐẶC ĐIỂM TĂNG HUYẾT ÁP Ở TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2 NĂM 2007

Huỳnh Thị Vũ Quỳnh, Nguyễn Thị Thanh Lan

TÓM TẮT :

Mục tiêu: mô tả các đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng, phân loại, nguyên nhân, tổn thương cơ quan đích và các đặc điểm điều trị tăng huyết áp (THA) ở trẻ em. 
Phương pháp nghiên cứu: mô tả hàng loạt ca 
Kết quả: từ tháng 1/2007- tháng 10/2007 có 65 ca (59 ca THA thứ phát và 6 ca THA nguyên phát). Tuổi trung bình của bệnh nhân: 8,86 tuổi ± 4,5 tuổi. Tỉ lệ nam/nữ=2/1. Chỉ số khối cơ thể (BMI) trung bình là 17,93 ± 4,21 kg/m2. Tỉ lệ trẻ quá cân, béo phì ở nhóm THA nguyên phát là 33,1%, ở nhóm THA thứ phát là 5,1%. Đa số trẻ em THA không có triệu chứng lâm sàng (58,5%). Cận lâm sàng biểu hiện chủ yếu là bất thường về thận ở những bệnh nhân THA do nguyên nhân tại thận. Tỉ lệ rối loạn lipid máu là 30,2%. Về phân loại THA, đa số là THA tâm thu (100%), THA tâm thu và tâm trương (83,3%), không có trường hợp nào THA tâm trương đơn độc. THA độ I (26,9%), THA độ II (83,1%). Nguy cơ A (41,5%), nguy cơ B (30,8%), nguy cơ C (27,7%). Về nguyên nhân THA, 90,8% là THA thứ phát (thận: 73,8%, mạch máu: 6,2%, thuốc: 7,7%, nội tiết: 3%, u thận: 3,1%, xuất huyết não: 1,5%). 29,2% bệnh nhân THA có tổn thương cơ quan đích, trong đó, tổn thương tim (23,1%), thần kinh (16,9%), võng mạc (4,6%). Các bệnh nhân THA do nguyên nhân ngoài thận đều có chức năng thận bình thường và có đạm niệu âm tính trên xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu và đạm niệu 24 giờ. Về điều trị, đa số có chỉ định điều trị bằng thuốc (92,3%), ức chế canxi là thuốc được sử dụng nhiều nhất. Tỉ lệ điều trị đơn trị liệu (38,5%), phối hợp 2 thuốc (52,3%). Tỉ lệ bệnh nhân khống chế được HA bằng thuốc là 73,8%. Có 20% bệnh nhân thất bại với điều trị, chủ yếu là các bệnh nhân suy thận mạn (STM).
Kết luận: Đa số THA ở trẻ em là thứ phát, trong đó thận là nguyên nhân hàng đầu gây THA. THA tâm thu là dạng phổ biến hơn so với THA tâm trương. Đa số THA ở trẻ em là THA độ II. Tổn thương cơ quan đích chiếm tỉ lệ tương đối cao. Hầu hết THA ở trẻ em có chỉ định điều trị bằng thuốc.

ABSTRACT :

Objectives: To discribe epidemiological, clinical, laboratory features, classifications, causes, target-organ damages and therapeutic characteristics of pediatric hypertension.
Method: descriptive case series.
Result: there were 65 cases from 1/2007-10/2007 (59 cases secondary hypertension, and 6 cases primary hypertension). The mean ages: 8.86 ± 4.5 year olds. Male to female ratio was 2:1. Mean body mass index (BMI) was 17.93 ± 4.21 kg/m2. The rate of overweight, obesity in primary hypertensive cases was 33.1% and in secondary hypertensive cases was 5.1%. Most of cases had no symtomps and signs. Laboratory testings revealed renal abnormal in cases of hypertension which caused by renal disorders. 30.2% of cases were lipidemia disorder. All cases were systolic hypertension (100%), both systolic and diastolic hypertension (83.3%). There was no diastolic hypertension alone. Stage I hypertension (26.9%), stage II hypertension (83.1%). Risk A (41.5%), risk B (30.8%), risk C (27.7%). 90.8% of cases were secondary hypertension (renal causes: 73.8%, vascularity: 6.2%, drugs: 7.7%, endocrines: 3%, renal tumors: 3.1%, brain hemorrhage: 1.5%). 29.2% of cases had target-organ damages such as cardiac damages (23.3%), neurological complications (16.9%), retinal complications (4.6%). Patients without renal causes had no protein in urine dipstick, no protein in urine in 24 hours and had normal renal function. 92.3% cases had drug therapeutic indication in which calcium-blockers were used most common. The rates of single drug and two-drug combination were 38.5% and 52.3%, respectively. 73.8% of cases achieved goal blood pressure by drug. 20% of cases were not controlled blood pressure, mainly chronic renal failure patients Conclusion: Most of the patients were secondary hypertension, in which renal disorders were the most common causes. Systolic hypertension was more common than diastolic hypertension. Pediatric hypertension was mainly stage II. Target-organ-damages had relatively high rate. Most of cases had drug therapeutic indication.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF