Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2010 - Tập 14 - Số 1
15 NĂM KINH NGHIỆM PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ MỒ HÔI TAY QUA NỘI SOI LỒNG NGỰC

Văn Tần, Hồ Nam

TÓM TẮT :

Ướt bàn tay do mồ hôi là hội chứng thường gặp ở người lao động trẻ, gây trở ngại lao động học tập và giao tiếp,Điều trị hiệu quả nhất là cắt thần kinh giao cảm (TKGC) ngực. Ngày nay không còn ai xử dụng mổ mở Về NSLN, lỗ trocar vào ngực trên đường nách giữa ở người bệnh nằm nghiêng. Nếu muốn thực hiện phẫu thuật bên kia thì phải xoay người bệnh. Với kỹ thuật này, phải mổ 2 lần ở 1 người bệnh. Cắt bỏ đoạn TKGC từ sườn 2 đến sườn 4 thường gây đổ mồ hôi bù trừ (MHBT) cao, là một biến chứng rất khó điều trị. Nhiều báo cáo cho thấy kết quả khô bàn tay đạt trên 98% nhưng tỉ lệ đổ MHBT có thể lên đến 70%.
Mục tiêu: - NC cải tiến thế nằm và đường vào ngực để có thể thám sát và cắt TKGC ngực 2 bên ở 1 thế nằm trong 1 lần mổ.- NC cải tiến phẫu thuật để có thể giảm tiết MHBT. Phương pháp và đối tượng: - Cải tiến thế nằm, đường mổ:- Người bệnh nằm sấp hay nằm ngửa sau khi gây mê với thông NKQ cho xẹp phổi từng bên.- Soi và mổ qua 2 lỗ hay 1 lỗ vào ngực trên đường nách sau (nằm sấp) hay nách trước (nằm ngửa)- Cải tiến PP phẫu thuật: Cắt đứt ngang TKGC trên sườn 2 và 3 thay vì cắt bỏ cả đoạn thần kinh.- Trang thiết bị: Máy nội soi Olympus và Storz với camera 0, trocar ngắn không van 10mm (hay 7mm) và 5mm.- Bệnh nhân: 3288 BN bị ướt bàn tay do MH, gây trở ngại lao động, học tập, sinh hoạt, giao tiếp, yêu cầu được điều trị tại BV Bình Dân từ tháng 8 năm 1996 đến tháng 6 năm 2009. 2 nhóm bệnh được điều trị theo 2 PP phẫu thuật ở 2 thời kỳ khác nhau:1- Nhóm 1 mổ với thế nằm nghiêng, lỗ vào trên đường nách giữa, cả đoạn TKGC 2-3- 4 phải cắt bỏ. 2- Nhóm 2, nằm sấp hay nằm ngửa, lỗ vào trên đường nách sau hay nách giũa, chỉ cắt đứt ngang TKGC trên các sườn 2 và 3 hay chỉ trên sườn 2. Tỉ lệ nam/nữ: 3/2, tuổi trung bình 25, hơn 1/2 đến từ các tỉnh. Hầu hết là học sinh, sinh viên và công nhân. Cả 2 nhóm không có sự khác biệt về tuổi tác, nam nữ, nghề nghiệp và các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng.
Kết quả: Nhóm 1 có 102 và nhóm 2 có 3186. Trừ 1 BN không thể thực hiện phẫu thuật vì không đặt được ống nội khí quản để gây mê và 14 BN chỉ cắt được TKGC 1 bên vì bên kia phổi dính nhiều vào lá thành, kết quả phẫu thuật đạt được như sau:Tỉ lệ khô bàn tay sau mổ ở nhóm 1 là 97,3%, nhóm 2 là 96,8%. Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê.Tỉ lệ đổ MHBT ở các nơi khác trên cơ thể ở nhóm 1: 41%, ở nhóm 2: 24%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kêTỉ lệ đổ mồ hôi bù trừ nhiều gây nhiều phiền phức ở nhóm 1 là 4%, ở nhóm 2 là 0%.Thời gian mổ và số lỗ trocar vào ngực giảm ở nhóm 2, từ 2 đến còn 1 lỗ so với nhóm 1, 3 lỗ.Ở nhóm 1 có 1 BN, ở nhóm 2 có 5 BN phải dẫn lưu màng phổi trong 24 giờ. Tất cả đều không dùng kháng sinh và chỉ có 1 BN bị nhiễm trùng vết mổ ở nhóm 2. Tất cả đều được chụp phổi kiểm tra ngay sau mổ, được xuất viện ngày hôm sau. Không có biến chứng cần can thiệp phẫu thuật lại trong và sau mổ.Trong theo dõi từ 3 tháng đến 15 năm, trung bình là 60 tháng trên 80% BN, chỉ có 9 BN ở nhóm 2 và 1 BN ở nhóm 1 tái phát một hoặc cả 2 bên và 7 BN đã mổ lại (NS) với kết quả rất tốt. Bàn luận: Ở trong nước, Nguyễn Thường Xuân đã điều trị chứng bệnh này bằng cách cắt bỏ TKGC qua mở ngực hay chích nước sôi để phá hủy hạch TKGC. Ở nước ngoài, NSLN để điều trị chứng ướt bàn tay do MH đã được báo cáo nhiều trong các hội nghị NS và kết quả làm khô bàn tay là từ 95 đến 100% nhưng tỉ lệ đổ MHBT thì không khắc phục được. Nghiên cứu của chúng tôi đã đạt được tỉ lệ khô bàn tay như họ nhưng tỉ lệ đổ MHBT ở những nơi khác của cơ thể giảm rất đáng kể. Riêng về thế nằm sấp của bệnh nhân để mổ 2 bên 1 lần được Hann báo cáo lần đầu tại hội nghị NS Âu-Á Istanbul năm 1997. Tác giả đã thực hiện 9 TH với ống thông NKQ 1 nòng và phải bơm CO2 để làm xẹp phổi. Vì số liệu quá ít nên tác giả chỉ kết luận là tiện lợi nhờ mổ 2 ngực với 1 thế nằm. Sau Hội nghị, chúng tôi đã ứng dụng thế nằm này nhưng lại dùng ống NKQ 2 nòng, thông khí chọn lọc nên không cần bơm CO2 và chỉ dùng 2 trocar thay vì 3 trocar như Hann và đã đạt được các kết quả như ý muốn. Từ năm 2004, chúng tôi cải tiến thế nằm, cho BN nằm ngửa và vào ngực chỉ 1 lỗ với dụng cụ cải tiến.
Kết luận: Qua NSLN, bệnh nhân nằm ngửa, với một lỗ vào 7mm trên đường nách giữa, phẫu thuật cắt đứt ngang TKGC ngực trên các sườn 2 và 3 có thể thực hiện được gần 100%; hiệu quả khô bàn tay rất cao, ít gây BC, không đổ MHB nặng, tái phát trong dài hạn thấp.

ABSTRACT :

Standard Thoracic Sympathectomy (TS) involves removal of the sympathetic nerve (SN) with thoracic ganglia 2, 3 and 4. This is the standard approach for palmar hyperhydrosis (PH), Raynaud's phenomena, Buerger's disease and causalgia.There are many surgical approaches and techniques for TS:By these procedures, many reports showed over 95% of the wet hand having been cured, though a high compensary sweating (CSw) rate, from 21 to 70% was reported.
Purpose: We study the modified technique of TS to treat the PH for getting 2 aims:To practice the bilateral thoracoscopic sympathectomy with 1 patient position.To reduce the rate of CSw.
Method:1- As approach, patient is in prone at first and in supine since 2004.2- As treatment, only the SN on T2 or on T2 and T3 is transected without removal.The Olympus and Storz laparoscopic system are used with short, valveless trocars: 10 or 7 and 5mm.A double lumen tracheal intubation is applied for selective each side lung collapseThe results are randomized with a group operated by lateral position with the SN from T2 to T4 removed. 
Patients: From August 1996 to June 2009, in 3288 patients operated (besides 1 case that we can't intubate and 14 cases, the SN of one side can't be cut because dense adhesions), there are:- 102 patients of group 1: the SN from T2 to T4 was dissected and removed. Patients were on the right then on left lateral decubitus with a 3 ports procedure.- 3186 patients of group II: the SN on T2 and T3 were transected without removed. Patients were on prone with a 2 ports or in supine with 1 port procedure The middle age, 25, the gender rate male/female, 3/2, the occupations (almost are students and young workers), the history of disease, the clinical and paraclinical characteristics of 2 groups are almost the same.
Results: The rate of wet hand cured were 97.5% in the group I and 96.8% in the group II. The CSw of the group I is 41% with 4%, severe sweating and of the group II, the rate, only 24% and none having had severe sweating. As complications, one side pneumothorax must be drained within 24 hours in 1 case of the group 1 and 5 cases of the group II. Port infection in 1 case of the group II. The other intra and post operative complications as long lasting thoracic pain, mild dypnea, local lung contusion or torn are seldom. The operative time and the ports are reduced in the group II, (2 ports or 1 port) in comparison with group I (3 ports). There are any technical difficulties in group II in comparison with group I.In the follow-up from 3 months to 15 years, (60 months average) of more than 80% of cases; there are only 1 case of group I and 9 cases of group II that the PH recurs in one side. 7 cases reoperated, got good results. Discussion: In Viet Nam, besides the sympathetectomy by thoracotomy, some authors have had treated the PH by injection of hot water into the thoracic SN but they got uncertain results.Until now, many authors reported high CSw after TS. In our study, by transecting in place of removing the SN, the CSw reduced a lot.About approach, Hann reported 9 cases operated with the posterior approach the first time in the Euro-Asian Congress of Endoscopic Surgery, Istanbul 1997. For getting lung collapse, he used single lumen tracheal intubation with CO2 inflation. We use double lumen tracheal intubation to create room by selective lung collapse, so the surgical procedure can be practiced easily. The procedure is more modified since 2004 that we can practice the TS with one port on patient in supine.
Conclusion: With posterior approach (patients in prone) or anterior approach (patients in supine), we can practice the TS (almost of patients) of both thoracic cavities in one operation with one port 7mm.The transection of sympathetic nerve on the T2 or on T2 and T3 is sufficient to cure 96.8% of wet hands and can reduce a lot of the CSw. Recurrence of wet hand after the procedure is seldom in long-term follow-up.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF