Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2010 - Tập 14 - Số 1
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT HẸP ĐƯỜNG MẬT LÀNH TÍNH SAU MỔ

Võ Văn Hùng, Nguyễn Cao Cương, Lê Quang Nghĩa, Trần Trung Hiếu

TÓM TẮT :

Đặt vấn đề: Hẹp đường mật lành tính sau mổ thường xảy ra sau tổn thương đường mật, sau mổ nối đường mật đường tiêu hóa, là bệnh khó điều trị tỉ lệ tái phát, tỉ lệ biến chứng và tử vong còn cao.
Mục tiêu: Nghiên cứu đánh giá vai trò của phẫu thuật trong điều trị hẹp đường mật lành tính sau mổ.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, hồi cứu và tiền cứu.
Kết quả: Trong 4 năm từ 01/05/2005 đến 31/05/2009, chúng tôi phẫu thuật điều trị 37 trường hợp hẹp đường mật lành tính sau mổ, tuổi trung bình 48, 26 nữ, 11 nam. Nguyên nhân hẹp đường mật do tổn thương đường mật 17 trường hợp, hẹp miếng nối đường mật-đường tiêu hóa 19 trường hợp, sau phẫu thuật chấn thương tá tụy 1 trường hợp. 56,75 % trường hợp có sỏi đường mật kèm theo, đa số trong những trường hợp hẹp miệng nối đường mật - đường tiêu hóa. Phương pháp phẫu thuật: 1 trường hợp tạo hình OMC, 1 trường hợp nong miệng nối, các trường hợp còn lại được nối ống gan-hỗng tràng Roux-en-Y, trong đó có 9 trường hợp hẹp miệng nối tái phát được rã miệng nối cũ, nối lại ống gan-hỗng tràng Roux-en-Y kiểu mật - ruột -da. Tỉ lệ biến chứng 27%: nhiễm trùng vết mổ, nhiễm trùng đường mật ngược dòng, dò mật, dò tiêu hóa, có 2 trường hợp mổ lại do dò mật và dò tiêu hóa điều trị nội thất bại. Không có tử vong. Các yếu tố gây hẹp tái phát như: kỹ thuật mổ, loại phẫu thuật lần trước, miệng nối thiếu máu nuôi, miệng nối còn mô nang đường mật, nhiễm trùng, sỏi đường mật kết hợp. 
Kết luận: Điều trị hẹp đường mật lành tính sau mổ có nhiều khó khăn, tỉ lệ hẹp tái phát cao. Đa số trường hợp cần phẫu thuật làm lại miệng nối. Phương pháp phẫu thuật lựa chọn là nối ống gan-hỗng tràng Roux-en Y mật - ruột - da, kỹ thuật này giúp tạo ngõ vào qua da điều trị hẹp miệng nối tái phát và lấy sỏi đường mật kết hợp.

ABSTRACT :

Background: postoperative benign biliary stricture is often seen after bile duct injury and bilio-enteric anastomosis. The treatment is very difficult and complex with high rate of complications. Aims: The goal of this study is to evaluate the role of surgery in managing this disease.Methods: retrospective and prospective study.
Results: Between May 2005 and May 2009, 37 patients with postoperative benign strictures underwent surgical treatment. The average of age is 48, 26 females, 11 males. The causes of strictures are:17 biliary duct injuries, 19 bilio-enteric anastomotic strictures, 1 postoperation of pancreatoduodenal trauma. 56.75% with biliary stones simultaneously, in majority of biliary-intestinal anastomotic strictures. The surgical techniques performed are: 1 common bile duct reconstruction, 1 anastomotic dilatation, 35 Roux-en Y hepaticojejunostomies, 9 of these with a subparietal hepaticojejunal biliary access loop. Morbidity rate 27%: infected wound, bile leak, intestinal leak, retrograde biliary infection. 2 reoperated cases. No death. The risk factors of stenosis are type of surgery, prior surgical repair of bile duct stricture, ischemia of proximal biliary tract, choledochal cyst, cholangiolithiasis and cholangitis.
Conclusion: The management of patients with postoperative benign biliary stricture is a challenging problem with high morbidity and restricture rates. The hepatico-jejunostomy with subparietal access loop permits a long-term access to the biliary ducts and anastomosis allowing removal of stones and dilatation of strictures.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF