Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2009 - Tập 13 - Số 3
LẤY SỎI MẬT QUA ĐƯỜNG HẦM ỐNG KEHR BẰNG ỐNG SOI MỀM

Lê Quan Anh Tuấn

TÓM TẮT :

Đặt vấn đề: Còn sỏi sau mổ sỏi đường mật thường gặp và là một vấn đề khó khăn đối với các phẫu thuật viên gan mật. Mục tiêu: đánh giá hiệu quả của lấy sỏi mật qua đường hầm ống Kehr với ống soi mềm, kết hợp tán sỏi điện thủy lực. Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu can thiệp, tiến cứu, không nhóm chứng. Từ 01/2004 đến 12/2005, tại bệnh viện Đại học Y Dược TpHCM, lấy sỏi mật qua đường hầm ống Kehr được thực hiện trên 200 bệnh nhân còn sỏi đường mật sau mổ với 614 lần soi. Chúng tôi sử dụng ống soi mềm đường mật 5mm, kết hợp với tán sỏi điện thủy lực. Kết quả: 200 bệnh nhân đều có sỏi trong gan, có 62 bệnh nhân có sỏi trong gan và sỏi ống mật chủ. Số lần lấy sỏi trung bình là 3,07 lần (từ 1 đến 9 lần). Có 135 trường hợp (67,5%) phải tán sỏi điện thủy lực vì sỏi to hay dính chặt vào đường mật. Tỉ lệ hết sỏi sau khi lấy qua đường hầm ống Kehr là 85,5%, còn ít sỏi ở đường mật nhỏ 11,5% và còn nhiều sỏi là 3%. Nguyên nhân không lấy hết sỏi thường do đường mật nhỏ, gập góc hay có hẹp đường mật. Tỉ lệ hẹp đường mật là 28%. Không có tai biến và biến chứng nặng. Thời gian nằm viện trung bình là 7 ngày (6,97+ 5,32). Kết luận: Lấy sỏi mật qua đường hầm ống Kehr kết hợp với tán sỏi điện thủy lực là cách giải quyết sỏi sót và sỏi đường mật trong gan rất hiệu quả và an toàn với tỉ lệ hết sỏi cao và không có biến chứng nặng. Đây là phương pháp tối ưu cho những bệnh nhân còn sỏi sau mổ có mang ống Kehr.

ABSTRACT :

Background: Retained biliary stones remain a common clinical problem in patients after surgery and a challenge for hepatobiliary surgeons. Objectives: The aim of this study is to evaluate the efficacy of biliary stone extraction via T-tube tract using a flexible fiber optic choledochoscope and electrohydraulic lithotripsy. Methods: This is a prospective, interventional case series study. From January 2004 to December 2005, biliary stone extraction via T-tube tract was performed 614 times on 200 patients with retained biliary stones at the University Medical Center of Ho Chi Minh City. A 5mm flexible fiber optic choledochoscope was used in accompanied with electrohydraulic lithotripsy. Results: All of the patients had intrahepatic stones, among them, 62 patients had common bile duct stones. Each patient had 3,07 times of stone extraction on average (from 1 to 9 times). Electrohydraulic lithotripsy was necessary in 135 patients (67,5%) because of large or impacted stones. Complete clearance rate was 85,5%, a few small stones located deep in inaccessible branches of the intra-hepatic duct remained unremovable in 11,5% and residual stones due to failure of cholangioscopy occurred in 3%. The most common factors responsible for failure are small, angulated intrahepatic bile ducts and biliary strictures. Biliary strictures were noticed in 56 patients (28%). There were no major accidents and complications. The mean hospital stay was 7 days (6,97 + 5,32). Conclusions: Biliary stone extraction via T-tube tract with electrohydraulic lithotripsy is a safe and efficient procedure for retained biliary stones and intra-hepatic stones with a high complete clearance rate and no major complications. This is the method of choice for treatment of retained biliary stones in patients with a T-tube in situ.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF