Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2005 - Tập 9 - Số 1
BƯỚU SỌ HẦU: LÂM SÀNG VÀ ĐIỀU TRỊ

Nguyễn Quốc Điền,Hồ Văn Trung, Phạm Lương Giang, Cung Thị Tuyết Anh

TÓM TẮT :

Bệnh Viện Ung Bướu Thành Phố Hồ Chí Minh đã điều trị cho 35 bệnh nhân bướu sọ hầu trong thời gian từ 01/01/1998 đến 31/12/2002. Tất cả các bệnh nhân đều đã được mổ không trọn bướu tại các bệnh viện khác, sau đó được chuyển đến BVUB TPHCM để xạ trị. Nghiên cứu gồm 20 bệnh nhân nam và 15 bệnh nhân nữ, với tuổi trung bình là 16, nhỏ nhất là 3 tuổi và lớn nhất là 41 tuổi và 65,7% bệnh nhân dưới 20 tuổi. 97% bệnh nhân có triệu chứng nhức đầu, 77% có nôn ói. 83% bệnh nhân có mờ mắt, 86% có yếu liệt chi và 43% có triệu chứng rối loạn thần kinh cao cấp. 80% bệnh nhân có nốt vôi hóa vùng trên yên thấy trên X quang sọ. Kích thước bướu trên CT trung bình là 5,7 cm (nhỏ nhất 3,5cm, lớn nhất 10cm). Trên đại thể, 22,86% là bướu đặc, 34,28% là nang đơn thuần và 42,86% là bướu dạng hỗn hợp vừa đặc vừa nang. 28 bệnh nhân được xạ trị ngoài sau phẫu thuật, liều xạ trị vào vùng bướu thay đổi từ 54Gy đến 60Gy phân liều 2Gy, 5 lần/tuần. 50% bệnh nhân có cải thiện các triệu chứng thần kinh ngay sau khi xạ trị, trong khi 21% bệnh nhân xuất hiện thêm các rối loạn nội tiết. Thời gian theo dõi trung bình trong nghiên cứu này là 40 tháng (thấp nhất là 18 tháng, cao nhất là 61 tháng). Sống còn 5 năm là 84,59%. Trong các yếu tố được xét đến như dạng đại thể của bướu, mức độ phẫu thuật, tuổi, kích thước bướu, hiện diện của đốm vôi hóa thì dạng đại thể của bướu và mức độ phẫu thuật là hai yếu tố tiên lượng độc lập ảnh hưởng đến thời gian sống còn của bệnh nhân (p=0,05 và p=0,03).

ABSTRACT :

From January 1998 to December 2002, 35 patients were admitted into the Radiation Therapy Department of Ho Chi Minh City Cancer Hospital for a craniopharyngioma not totally removed. Our series consisted of 15 males and 20 females. The mean age was 16 (range from 3 to 41) with 65,7% under the age of 20. Ninety-seven percent of cases presented with headache, 77% with vomiting. Eighty-three percent of cases complained of failing vision, 86% had limb disability and 43% had neurological disturbance such as decline in orientation, memory or consciousness. Suprasellar space calcification on skull X-ray was seen in 80% of cases. The average tumor size determined by CT scan was 5.7cm (range from 3.5 to 10cm). The tumor was solid in 22.8% of cases, cystic in 34.3% and mixed in 42.9%. Twenty eight patients received external radiation therapy with a tumor dose ranging from 54Gy to 60 Gy, 2Gy per fractiọn, 5 days per week. Neurologic symptoms were controlled in 50% of the patients after radiation while 21% of the cases developed endocrine complications (diabetes insipidus, growth disturbance, lack of puberty). The mean follow-up was 40 months (range 18 - 61 months). The five-year survival rate was 84.59%. Among the factors such as tumor aspect (solid, mixed, cystic) and surgery extention (subtotal resection, stereotactic biopsy), age, tumor size, calcification, only the tumor aspect and the surgery extention were significant prognostic factors (p=0.05, p=0.03).

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF