Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2011 - Tập 15 - Số 2
VAI TRÒ MÔ BỆNH HỌC TRONG DỰ ĐOÁN BIẾN CHỨNG U NGUYÊN BÀO NUÔI SAU CHỬA TRỨNG

Lê Quang Vinh

TÓM TẮT :

TÓM TẮTMở đầu: Vai trò mô bệnh học trong dự đoán biến chứng u nguyên bào nuôi sau chửa trứng. Bệnh nguyên bào nuôi có thể chia thành hai loại hình thái lành tính là chửa trứng hoàn toàn và không hoàn toàn và 3 hình thái ác tính gồm chửa trứng xâm nhập, ung thư biểu mô màng đệm và u nguyên bào nuôi tại vùng rau cắm. Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ mắc bệnh cao, hàng năm có khoảng 9143 trường hợp chửa trứng, trong đó 19-21% biến thành u nguyên bào nuôi các tính. Việc sử dụng hóa liệu pháp cho tất cả các bệnh nhân chửa trứng là không thích hợp. Xác định chửa trứng có nguy cơ cao phát triển thành u nguyên bào nuôi tại thời điểm hút trứng khi hóa liệu pháp dự phòng có thể hữu hiệu là cần thiết. Mục tiêu: Xác định những đặc tính tổ chức học của chửa trứng liên quan tới sự tồn tại bệnh nguyên bào nuôi ngay sau nạo trứng. Đối tượng và phương pháp: Tiến hành nghiên cứu hồi cứu 380 bệnh án và tiêu bản mô bệnh học bệnh nhân chửa trứng toàn phần đã điều trị tại bệnh viện phụ sản trung ương trong 6 năm. Kết quả: Trong số 380 bệnh nhân chửa trứng có 131 trường hợp biến chứng u nguyên bào nuôi đòi hỏi hoá liệu pháp hoặc phẫu thuật, 249 trường hợp khỏi hoàn toàn. Những bệnh nhân biến chứng u nguyên bào nuôi nhận thấy có sự quá sản mạnh nguyên bào nuôi (OR= 2,7), tỷ lệ nhân bất thường tăng (OR= 4,2), sự biệt hoá (OR= 14,3) và tỷ lệ hợp bào/ đơn bào nuôi giảm (OR= 4,2). Tuy nhiên, giữa các hình ảnh tổ chức học có mối quan hệ mật thiết. Mối liên quan vừa và cao giữa các tiêu chuẩn tổ chức học của chửa trứng: Giá trị tuyệt đối của mối quan hệ Spearman thay đổi từ 0,27 - 0,72. Kết luận: Với kết quả của nghiên cứu này, có thể nghĩ tới một phác đồ điều trị và theo dõi thích hợp cho từng bệnh nhân sau nạo trứng dựa trên những đánh giá tổ chức học của tổ chức nạo.

ABSTRACT :

ABSTRACTIntroduction: Gestational trophoblastic disease can be divided into two benign form which consist of complete hydatiform mole and partial hydatiform mole and three malign form namely invasive mole, choriocarcinoma and placental site trophoblastic tumor. Gestational trophoblastic disease is common in Viet Nam, an estimated 9143 new molar cases per year, and 19-21% of post molar patients would develop gestational trophoblastic tumors. Prophylactic chemotherapy for all patients with hydatiform mole would be a powerful argument and inappropriate. Prophylactic treatment of molar patients might be properly given if patients who are in high risk group for subsequent gestational trophoblastic tumors could be identified at the time of molar abortion. Objective and method: This study, therefore, aimed to determine the association between pathological characteristics and subsequent development of gestational trophoblastic tumor (GTT) in post - molar patients, we conducted a retrospective study of clinical information and histopathological sides for 380 case of original hydatiform mole (HM) treated at National hospital of Obstetrics and Gynecology during 6 years. Result: The 380 HM patients composed of 131 who subsequently required chemotherapy or surgery for GTT and 249 with HM defined as remission by ultimate clinical course. The HM which ultimately developed GTT demonstrated histological evidence of excessively abnormal proliferative activity (OR= 2.7), high degree of nuclear atypia (OR= 4.2), less differentiation (OR= 14.3) and ratio of syncytio to cytotrophoblast (OR= 4.2). A high level of correlation existed among these histological features.Conclusion: Base on those findings the possibility that the malignant potential of the trophoblast of a hydatiform mole could be predicted from the original histological appearances.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF