Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2011 - Tập 15 - Số 4
TÌNH HÌNH NHIỄM KHUẨN TRÊN BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ ĐẶC HIỆU BỆNH BẠCH CẦU CẤP TẠI KHOA LÂM SÀNG NGƯỜI LỚN, BỆNH VIỆN TRUYỀN MÁU-HUYẾT HỌC, TP. HỒ CHÍ MINH, TỪ 6/2010 ĐẾN 2/2011

Ngô Ngọc Ngân Linh, Nguyễn Tấn Bỉnh, Hoàng Duy Nam, Huỳnh Đức Vĩnh Phú

TÓM TẮT :

Mục tiêu: Khảo sát tình hình nhiễm khuẩn trên bệnh nhân điều trị đặc hiệu bệnh bạch cầu cấp ở các giai đoạn điều trị (tấn công hay củng cố). Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu, cắt ngang mô tả trên 53 bệnh nhân điều trị đặc hiệu các giai đoạn bệnh bạch cầu cấp, trong khoảng thời gian từ 06/2010 đến 06/2011. Kết quả: 100% trường hợp sốt giảm bạch cầu hạt trong đó có 66% trường hợp xác định được ổ nhiễm khuẩn. Nhiễm khuẩn huyết chiếm tỉ lệ cao nhất 39,6%. Tác nhân thường gặp nhất là 81,5% vi khuẩn Gram âm (Gr(-)), trong đó E. coli chiếm tỉ lệ cao nhất 22,2%. Tỉ lệ nhiễm nấm (11,1%) đang có khuynh hướng gia tăng hơn so với nhiễm khuẩn Gram dương. Tỉ lệ đề kháng Levofloxacin của tác nhân Gram âm lên đến 77,8% và với Amikacin là 26,7%, trong khi tỉ lệ nhạy với cephalosporin thế hệ 3 chỉ khoảng 50% các trường hợp. Xuất hiện chủng Burkholderia cepacia được xem là có tỉ lệ kháng cao với Imipenem, Piperacilline - Tazobactam và chủng Stenotrophomonas maltophilia kháng Meropenem. Sự phù hợp dựa trên phân lập vi khuẩn Gram âm và kháng sinh đồ của kháng sinh kinh nghiệm Piperacilline/tazobactam kết hợp amikacine, Imipenem/cilastin kết hợp amikacine là 72,7% và 71,4%.Kết luận: Nhiễm khuẩn trong các giai đoạn điều trị đặc hiệu bệnh bạch cầu cấp là biến chứng thường gặp nhất. Tỉ lệ nhiễm khuẩn huyết cao vì thế bệnh nhân sốt giảm bạch cầu hạt cần được theo dõi sát và điều trị khẩn cấp với kháng sinh kinh nghiệm. Phác đồ có thể chọn lựa bước đầu là Imipenem/cilastin và amikacine hay Piperacilline/tazobactam và amikacine. Vancomycin và Amphotericin B vẫn còn hiệu quả trên vi khuẩn Gram dương (Gr(+)) và Candida spp trong nghiên cứu của chúng tôi.

ABSTRACT :

Objective: To survey characteristics of infection in acute leukemia patients following specific chemotherapy (induction or consolidation therapy). Method: a retrospective cross-sectional study of 53 acute leukemia patients treated with induction or consolidation chemotherapy, in the period from 06/2010 to 06/2011.Results: 100% of cases had neutropenic fever, including 66% of cases with identified sites of infection. Sepsis accounted for the highest rate of 39.6%. The most common agents were Gram-negative bacteria with the proportion of 81.5%, including E. coli with the highest proportion of 22.2%. The rate of fungal infection (11.1%) tended to increase more than Gram-positive infections. Up to 77.8% of Gram negative agents were resistant to Levofloxacin, 26.7% to Amikacin and just around 50% of them were sensitive to three-generation cephalosporins. Based on analysis of antibiotic-gram and isolated bacteria, the conformity of Piperacilline/tazobactam plus amikacine, Imipenem/cilastin plus amikacine were found to reach to respectively 72.7% and 71.4%.Conclusion: Infection is the most common complication in acute leukemia patients following chemotherapy. Due to the high rate of sepsis, close follow-up is required and empirical systemic antibiotics must be started immediately in patients with neutropenic fever. Imipenem/cilastin plus amikacine or Piperacilline/tazobactam plus amikacine should be chosen initially. In our study, Vancomycin and Amphotericin B are still effective on the Gram positive and Candida spp.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF