Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2005 - Tập 9 - Số 1
LYMPHÔM KHÔNG HODGKIN NGOÀI HẠCH NGUYÊN PHÁT NGƯỜI LỚN: CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ

Bộ môn Ung thư học - Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Nội 2 - Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ môn Ung thư học - Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng Cán bộ Y tế Thành phố Hồ Chí Minh

TÓM TẮT :

Đặt vấn đề: Lymphôm không Hodgkin (LKH) là một trong 10 loại ung thư thường gặp nhất tại BV Ung Bướu. Biểu hiện lâm sàng có thể là hạch to (LKH hạch), hoặc tổn thương ngoài hạch (LKH ngoài hạch nguyên phát hoặc thứ phát). LKH ngoài hạch thứ phát thường do tổn thương từ hạch xâm nhiễm các vị trí ngoài hạch, nên được coi là LKH hạch giai đoạn lan tràn (IV); trái lại, LKH ngoài hạch nguyên phát (LKH NHNP) (thường là các LKH giai đoạn IE hay IIE) là một thực thể bệnh đặc biệt của LKH nói chung.
Mục đích: Khảo sát một số đặc điểm về dịch tễ, chẩn đoán và điều trị LKH NHNP ở người lớn.
Đối tượng và phương pháp: Hồi cứu 142 bệnh nhân LKH NHNP ≥ 15 tuổi nhập điều trị tại BV Ung Bướu TPHCM từ 01/01/1999 đến 31/12/ 2000. Sống còn tính theo Kaplan-Meier.
Kết quả: LKH NHNP chiếm 27,1% các LKH, biểu hiện ở nhiều vị trí/cơ quan, nhiều nhất ở vòng Waldeyer (35,9%) và đường tiêu hóa (14,1%). Tuổi trung bình là 49,1. Nam/ nữ= 1,33/1. Trên lâm sàng, ngoài tổn thương ngoài hạch nguyên phát còn có hạch vùng to (hạch ngoại vi: 50,7%; hạch nội tạng: 16,2%). Các cận lâm sàng giúp ích trong việc chẩn đoán cũng như xếp giai đoạn bệnh. LDH tăng chiếm 42,5%. Chẩn đoán xác định bệnh bằng sinh thiết tổn thương ngoài hạch (83,1%), hoặc hạch (16,9%). FNA hầu như không giúp chẩn đoán. Giải phẫu bệnh (GPB) xếp theo Working Formulation (WF) cho thấy grad mô học trung bình chiếm đa số (70,4%), nhiều nhất là lymphôm lan tỏa loại tế bào lớn (52,4%). Về xếp giai đoạn: giai đoạn IE (45,1%), IIE (54,9%), triệu chứng B (39,4%). Điều trị đa mô thức là phương pháp chính, trong đó hóa trị giữ vai trò quyết định (100% trường hợp). Phẫu trị thường dùng trong LKH đường tiêu hóa. Xạ trị hỗ trợ hóa trị (31,7%). Hóa trị phác đồ có Anthracyclin (CHOP/CEOP) thường được sử dụng (88,2%). Đáp ứng CR: 79,3%, PR: 11%. Độc tính hóa trị thấp, bệnh nhân dung nạp tốt. Sống còn toàn bộ 4 năm là 72,9%, có liên quan với: tuổi, triệu chứng B, vị trí ngoài hạch, nồng độ LDH máu.
Kết luận: LKH NHNP là một thể đặc biệt và không đồng nhất của LKH, có thể biểu hiện ở bất kỳ vị trí/cơ quan nào trong cơ thể, không kèm hoặc kèm hạch vùng cùng bên cơ hoành. Bệnh có biểu hiện đa dạng, đáp ứng tốt với điều trị quy ước và có tiên lượng tốt. Bảng xếp loại WF không nhận diện được một số thể đặc trưng của LKH NHNP, do đó hiện nay việc áp dụng bảng xếp loại mới REAL, cũng như dùng các kỹ thuật chẩn đoán GPB mới, là thật sự cần thiết.

ABSTRACT :

Background: Non-Hodgkin lymphoma (NHL) is one of the ten most prevalent malignancies at Ho Chi Minh City Cancer Hospital. Clinical manifestations are either nodal enlargement (nodal NHL), or extranodal lesions (primary or secondary extranodal NHL). While secondary extranodal involvements signify an advanced-stage NHL, primary extranodal NHL (PENHL) (which is arbitrarily defined as stage IE or IIE NHL) is a special entity.
Purpose: To study some characteristics of adult PENHL, including: epidemiologic features, diagnosis and treatment.
Materials And Method: Records of 142 patients admitted to Ho Chi Minh City Cancer Hospital from Jan 01, 1999 to Dec 12, 2000 and diagnosed PENHL were retrospectively reviewed. Kaplan-Meier method, was used to analyze survival data.
Results: PENHL accounted for 27,1% NHL and distributed in all body sites/organs. Two most common sites were Waldeyer's ring (35,9%) and gastro-intestinal (GI) tract (14,1%). Mean age: 49,1 years old. The male to female was 1,33/1. Extranodal symptoms were noticeable (82,8%), which were non specific and varied according to primary sites/organs. Paraclinical test/examinations were helpful in making a diagnosis, and in staging. Serum LDH, a prognostic factor in NHL, increased in 42,5% cases. Definite diagnosis based on biopsy and histologic examinaton of either extranodal lesion (83,1%) or lymph node (16,9%). FNA was not adequate for diagnosis. Classified according to WF, intermediate grade NHL were most common (70,4%), of which the most prevalent was group G (diffuse large cell lymphoma) (52,4%). Stages IE (45,1%), IIE (54,9%) (according to The Ann Arbor Conference) and B symptom(s) (39,4%). Multidisciplinary management was the main approach, chemotherapy being of primary role. Surgery was mostly used in GI NHL. Radiotherapy was of adjuvant role (31,7%). All cases were indicated chemotherapy; 88,1% used Anthracycline-based regimens (CHOP/CEOP). The response rate was CR: 79,3%, PR: 11%. Side effects and toxicities of chemotherapy were mild and tolerable. The 4-year overall survival were 72,9% and had correlation with: age, B symptoms, sites/organs and serum LDH.
Conclusion: PENHL is a heterogenous and special entity of NHL, which can manifest in a variety of sites/organs, without or with contiguous lymph nodes. This group of disease has various clinical features, respond well to conventional treatment and has good prognosis. The WF classification cannot recognise many specific forms of PENHL, therefore, nowadays, applying the new classification REAL, as well as using new pathologic techniques, is necessary.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF