Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2009 - Tập 13 - Số 5
TÌNH HÌNH TRẺ SƠ SINH NHẸ CÂN TẠI BỆNH VIỆN TỪ DŨ

Phạm Việt Thanh, Ngô Minh Xuân, Nguyễn Văn Dũng

TÓM TẮT :

Đặt vấn đề. Các trẻ nhẹ cân khi sanh (cân nặng khi sanh<2500 gam) và rất nhẹ cân khi sanh (cân nặng khi sanh ≤ 1500 gam) là một vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng vì có sự liên quan chắc chắn giữa cân nặng khi sanh với tình hình bệnh tật và tử vong, nhưng các nghiên cứu về các trẻ nhẹ cân vẫn còn hạn chế tại Việt Nam và Thành Phố Hồ Chí Minh. Vì vậy, việc thực hiện nghiên cứu này sẽ góp phần vào việc giảm hơn nữa tỉ lệ tử vong cho các trẻ sơ sinh nhẹ và rất nhẹ cân tại Bệnh Viện Từ Dũ. Mụcđích của nghiên cứu này là mô tả các đặc điểm bệnh tật và tử vong của các trẻ nhẹ cân, các biện pháp can thiệp và lượng giá các yếu tố ảnh hưởng đến tử vong sơ sinh tại Bệnh Viện Từ Dũ. Phương pháp. Nghiên cứu cắt ngang: Mô tả và phân tích. Phương pháp hồi quy đa biến được sử dụng để dự đoán các yếu tố ảnh hưởng đến tử vong sơ sinh. Kết quả. Từ tháng 8/2007 đến tháng 7/2008 có 4187 trẻ sơ sinh hội đủ tiêu chuẩn được đưa vào nghiên cứu. Tuổi thai và cân nặng trung bình là 1927,7410,6 gam và 32,487,5 tuần (tương ứng). Tỉ lệ tử vong chung trước khi xuất viện là 5,6%. Về tỉ lệ bệnh tật: Trẻ ngoại viện chiếm 1,7%, suy hô hấp(SHH): 20,1%, nhiễm trùng sơ sinh: 9,5%, suy dinh dưỡng bào thai: 6,2%. Các biện pháp can thiệp nội khoa bao gồm: Corticoid tiền sản: 3,8%, surfactant: 1,3%, thở máy: 4,8%, thở NCPAP: 11,2% trong tổng số trẻ nhập khoa. Trong phương trình hồi quy cuối cùng: Mẹ bị cao huyết áp hoặc tiền sản giật (OR=0,46, p=0,000) là yếu tố bảo vệ còn SHH nặng phải thở máy(OR=24,69, p=0,000) là yếu tố làm gia tăng nguy cơ tử vong. Kết luận: Tỉ lệ tử vong chung của các trẻ nhẹ cân là 5,6%, tỉ lệ này đạt ở mức thấp nhất (1,09%) ở các trẻ có cân nặng khi sanh >1500 gram, tuy nhiên tỉ lệ này vẫn còn khá cao (25,26%) ở các trẻ ≤ 1500 gram. Để giảm hơn nữa tỉ lệ tử vong, trong thời gian tới chúng ta cần phải hoàn thiện kỹ năng cai máy, giảm tình trạng quá tải tại khoa sơ sinh, tăng cường hợp tác sản nhi cũng như phòng chống hạ thân nhiệt cho các trẻ nhẹ và rất nhẹ cân.

ABSTRACT :

Background. Low birth weight (LBW) (birth weight<2500 gram) and very low birth weight (VLBW) (birth weight ≤1500 gram) neonates is of public health importance because of the strong relationship between birth weight and status of mortality and morbidity, but the research of LBW neonates is still limited in Vietnam and HCMC. Therefore, the implementation of this research will contribute to further reducing the mortality rate in LBW and VLBW neonates at TuDu Hospital. Objectives. The objectives of this study were to describe the morbidity characteristics and mortility rate of low birth weight (LBW) infants, to identify the medical intervention and to evaluate the factors affecting the neonatal mortality rate of these infants at Tudu hospitals. Methods. The cross-sectional study: Description and analyze. Risk and protective factors for mortality were derived from logistic regression models. Results. From August 2007 to July 2008, 4187 LBW infants were enrolled in our study. Gestational age and birth weight of studied infants were 1927.7410.6 g and 32.487.5 gestational weeks, respectively. Overall, 5.6 % of the infants died before being discharged from hospital. About the morbidity status: 1.7% were the infants which born at out of Tudu hospital, 20.1% had respiratory distress syndrom (RDS), 9.5% had neonatal infection, 6.2% had small for gestational age. Medical interventions involved were: 3.8 % antenatal corticosteroids, 1.3% surfactant therapy, 4.8% severe RDS which required mechanical ventilation, 11.2% NCPAP. Finally logistic regression models for death: Maternal preeclampsia or hypertension in pregnancy was protective (OR=0.26, p=0.000), severe RDS wich required mechanical ventilation was a significant risk factor (OR=24.69, p=0.000). Conclusions. The overall mortality rate for LBW infants was 5.59%. The rate was lowest at 1.09% with birth weight >1500 g and rather hight (25.26%) with birth weight ≤1500 g. To decrease more the mortality rate, we should have focus on improve the weaning skills of mechanical ventilation, reduce the overload of neonatal department, strengthen Obstetric - Pediatric cooperation, as well as prevent hypothermia of LBW and VLBW infants.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF