Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2010 - Tập 14 - Số 1
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NGẮN HẠN VÀ TRUNG HẠN BỆNH NHÂN PHẪU THUẬT BẮC CẦU ĐỘNG MẠCH VÀNH

Lê Thị Mỹ Duyên(1), Phạm Thọ Tuấn Anh(2), Võ Thành Nhân(3)

TÓM TẮT :

Đặt vấn đề: Điều trị bệnh mạch vành ngày nay tiến bộ đáng kể so với những năm qua, một phần lớn là do sự cải tiến về kỹ thuật phẫu thuật và can thiệp ĐMV qua da. Bệnh viện Chợ Rẫy thực hiện phẫu thuật bắc cầu ĐMV vào năm 2000.
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả ngắn hạn và trung hạn phẫu thuật bắc cầu động mạch vành tại Bệnh viện Chợ Rẫy.
Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu tất cả các trường hợp bệnh nhân được phẫu thuật bắc cầu ĐMV tại khoa Mổ Tim Hở Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 1/2007 đến tháng 8/2008. Loại trừ những trường hợp bệnh nhân đã được nong và có đặt giá đỡ (stent) trong lòng động mạch vành trước khi chuyển phẫu thuật bắc cầu động mạch vành hoặc những bệnh nhân có bệnh lý van tim nặng kèm theo. Theo dõi mỗi tháng sau xuất viện đối với tất cả bệnh nhân trong danh sách nghiên cứu. Kết thúc theo dõi vào tháng 3/2009. Để đánh giá cầu nối mạch vành, có 42 bệnh nhân đồng ý chụp động mạch vành kiểm tra với tổng số 156 cầu nối (gồm 133 cầu nối tĩnh mạch và 23 cầu nối động mạch vú trong trái). Thời gian trung bình từ sau khi phẫu thuật đến khi chụp mạch vành kiểm tra là 10,7 ± 4,6 tháng. Cầu nối mạch vành hẹp có ý nghĩa khi hẹp ≥80%.
Kết quả nghiên cứu: Có 141 bệnh nhân được phẫu thuật bắc cầu ĐMV, tuổi trung bình 63,3 gồm 68,1% là nam giới. Biến chứng sau phẫu thuật gồm nhồi máu cơ tim 22,7%, suy thận cấp 19,9%, rung nhĩ 19,1%, suy tim cung lượng tim thấp 18,4%, đột quỵ 3,5%. Tử vong chung trong vòng 30 ngày là 11,3% và tử vong trễ là 4,3% với thời gian theo dõi trung bình 2 năm. Có mối liên quan giữa tử vong trong vòng 30 ngày và nhồi máu cơ tim <7 ngày, phân suất tống máu thất trái EF ≤35%, phẫu thuật khẩn và cấp cứu với p lần lượt là 0,003; 0,002; 0,000. Có 71,2% (111/156) cầu nối thông và 28,8% (45/15) cầu nối hẹp có ý nghĩa. Tỷ lệ thông của cầu nối tĩnh mạch hiển là 67,7% (90/133) và tỷ lệ thông của cầu nối động mạch vú trong trái là 91,3% (21/23).
Kết luận: Phẫu thuật trong tình trạng trạng khẩn và cấp cứu làm gia tăng nguy cơ tử vong sau phẫu thuật cũng như làm gia tăng các biến chứng sau phẫu thuật. Đây mới chỉ là những kết quả sơ khởi trong giai đoạn bắt đầu phẫu thuật bắc cầu động mạch vành, chúng tôi cần phải có thời gian để hoàn thiện dần về kỹ thuật, củng cố kinh nghiệm để đạt được kết quả về lâu dài tốt hơn.

ABSTRACT :

Background: The treatment of coronary heart disease has evolved significantly over the past several years due in part to improvement in both surgical and percutaneous revascularization techniques. Coronary Artery Bypass Grafting (CABG) surgery have been performed in Cho Ray hospital since 2000.
Objective: To evaluate short- and intermediate-term results of coronary artery bypass grafting surgery at the Cho Ray hospital.
Method: All patients who had coronary artery bypass surgery in the Department of Cardiac Surgery, Cho Ray hospital from January 2007 to August 2008. The exception patients who had percutaneous coronary intervention or had serious valves disease. After CABG, patients were followed up monthly until the end of March 2009. Forty-two patients consented and underwent angiography, aiming to look at the quality of anastomoses and the patency of the grafts. One hundred and fifty-six (156) graft angiograms (include 133 saphenous vein and 23 left internal thoracic artery) were studied. The mean period from operation to re-angiogram was 10.7 ± 4.6 months. Graft failure was defined as ≥80% stenosis.
Results: During the study period 141 patients underwent coronary artery bypass surgery. The mean age of patients was 63.3 years; 68.1% were male. Postoperative complications included perioperative myocardial infarctions (22.7%), acute renal failure (19.9%), atrial fibrillation (19.1%), low cardiac output (18.4%), stroke (3.5%). The mortality at thirty day was 11.3% and 4.3% beyond 30 days at a median follow-up of 2 years in patients who underwent CABG. A correlation was found between operation mortality and myocardial infarctions <7 days, ejection fraction ≤35%, urgent and emergent operation ( p = 0.003, 0.002, 0.000, respectively). A total of 111/156 (71.2%) grafts were patent and 45/156 (28.8%) grafts had failed. Saphenous vein graft patency was 90/133 (67.7%) and left internal thoracic artery patency 21/23 (91.3%).
Conclusion: Urgent and emergent coronary artery bypass surgery increased 30 day mortality and postoperative complications. These were the beginning outcomes in our coronary artery bypass surgery early period. We must be time improving the techniques and consolidating the experiences to achieve better results.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF