Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2003 - Tập 7 - Số 4
BƯỚU SAO BÀO Ở TRẺ EM

Cung Thị Tuyết Anh

TÓM TẮT :

Trong thời gian từ 1/1/1997 đến 31/12/2001, Khoa Ung bướu Nhi Bệnh viện Ung bướu Tp Hồ Chí Minh tiếp nhận 57 trường hợp bướu sao bào ở trẻ em đã mổ tại các bệnh viện bạn, được chuyển đến để điều trị hỗ trợ bằng xạ trị và hóa trị. Trong số này có 34 trẻ nam và 23 trẻ nữ, phân bố đều từ 1 đến 14 tuổi. Triệu chứng khởi bệnh thường gặp là hội chứng tăng áp nội sọ và dấu thần kinh định vị. Tất cả đều có một ổ bướu, kích thước trung bình là 5,4 cm. 73,7% bệnh nhi được mổ lấy phần lớn bướu, 17,5% lấy trọn bướu và 8,8% sinh thiết bướu. Vị trí thường gặp nhất ở tiểu não, kế đến là các thùy của bán cầu đại não. Về độ mô học, độ ác thấp chiếm 56,2% các trường hợp và phân bố ở tiểu não nhiều hơn ở vị trí trên lều (69,2% so với 52,3%). Việc điều trị hỗ trợ sau mổ (xạ trị-hóa trị) tùy thuộc vào độ mô học, tuổi, mức độ lấy bướu, thể trạng và cả khả năng tài chính của gia đình bệnh nhi. 65% bệnh nhi điều trị đủ phác đồ, số còn lại hoặc bỏ dở điều trị hoặc không điều trị do bệnh tiến triển nhanh chóng. Trung vị thời gian sống còn (TGSC) toàn bộ của bệnh nhi bướu sao bào nói chung là 29,17 tháng (sai số chuẩn (ssc)4,52). Nhóm độ ác thấp có TGSC dài nhất, trung bình 56,86 tháng (ssc 3,96). Nhóm độ ác cao có TGSC trung bình từ 12 đến 15 tháng (ssc 4,86). Nhóm bệnh nhi dưới 3 tuổi có trung vị TGSC là 12,3 tháng (ssc 6,65), kém hơn so với nhóm bệnh nhi nói chung.

ABSTRACT :

57 children having a cerebral astrocytoma were admitted to HCM City Cancer Hospital from Jan 1st 1997 to Dec 31st 2001, for adjuvant therapies after the tumor had been removed or biopsied in other hospitals. The group consisted of 34 boys and 23 girls aged from 1 to 14 years old. The main symptoms at the onset of the disease are intracranial hypertension and focal neurologic dysfunction. All showed a single tumor on imaging study with an average diameter of 5.4 cm. 73.7% of the cases had subtotal excision, 17.5 had total removal and 8.8% had tumor biopsy. Tumors with low grade of malignancy took 56.2% of all cases and localized more often in the cerebellum (69.2%) than in the hemispheres (52.3%). The indication of adjuvant therapies (radiotherapy/ chemotherapy) depended on the histologic grade, the child's age, the extension of excision, the performance status and also on the financial standing of the patient's family. Only 65% of the cases completed the treatment course. Others had no specific treatment or didn't complete the course because of rapid progression of the disease. The median survival of all the children was 29.17 months (standard error (se)= 4.52). The overall survival is longest for the low grade (grade I-II) (mean survival= 56.86 months, se=3.96), 12.9 months (se= 3.31) for grade III and 15.88 months (se=4.86) for grade IV. Children under 3 years old had poor prognosis with the median survival about 12.3 months (se=6.65)..

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF