Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2009 - Tập 13 - Số 1
ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC THIẾU MEN GLUCOSE - 6 - PHOSPHATE DEHYDROGENASE Ở TRẺ SƠ SINH ĐƯỢC SINH RA TẠI TỈNH NINH THUẬN

Lê Vũ Chương, Lê Thị Ngọc Dung

TÓM TẮT :

Đặt vấn đề: Bệnh thiếu men Glucose - 6 - Phosphate Dehydrogenase (G6PD) có tỷ lệ cao hơn ở những dân tộc sống trong vùng sốt rét lưu hành. Ninh Thuận là tỉnh có nhiều dân tộc sinh sống và có 61,8% dân số sống trong vùng dịch tễ sốt rét. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu về tình hình thiếu men G6PD. Chúng tôi tiến hành khảo sát tỷ lệ và đặc điểm dịch tễ học thiếu men G6PD ở sơ sinh để góp phần đề xuất biện pháp dự phòng biến chứng nguy hiểm của bệnh này. 
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ và đặc điểm dịch tễ thiếu men G6PD ở trẻ sơ sinh được sinh ra tại các bệnh viện trên địa bàn của tỉnh Ninh Thuận từ 01/2008 đến 6/2008. 
Phương pháp: Cắt ngang mô tả trên 423 sơ sinh được sinh ra tại các bệnh viện của tỉnh Ninh Thuận trong 6 tháng đầu năm 2008. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên có hệ thống, phân tầng theo các bệnh viện. Định lượng men G6PD bằng phương pháp WST-8/ 1-methoxy PMS (Tantular I.S. 2003). 
Kết quả: Hàm lượng men trung bình là 7,02 UI/g Hb, hầu hết hoạt tính men thuộc lớp IV theo phân loại của WHO (79,9%). Tỷ lệ thiếu men G6PD ở sơ sinh là 3,5%, trong đó tỷ lệ thiếu men ở sơ sinh dân tộc Kinh là 2,2%, Chăm 7%, Raglay 8,3%. Những trẻ sơ sinh thiếu G6PD đa số có tuổi thai ≥ 37 tuần (14/15), cân nặng lúc sinh ≥ 2500 gam (13/15), trẻ trai (12/15), dân tộc Kinh (7/15), sống trong vùng sốt rét lưu hành (10/15) và có tuổi thai trung bình là 38,2 tuần, cân nặng trung bình lúc sinh là 3100 gam. Nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ thiếu men G6PD giữa trẻ trai (5,3%) và trẻ gái (1,5%), dân tộc ít người (7,2%) và dân tộc Kinh (2,2%), miền núi (6,9%) và vùng biển (0%), mẹ là thợ uốn tóc (40%) và mẹ làm nghề khác (3,1%) (p < 0,05). Mặc dù tỷ lệ thiếu men G6PD của sơ sinh sống trong vùng sốt rét lưu hành cao hơn ngoài vùng sốt rét lưu hành (4,0% so với 2,9%) và tỷ lệ thiếu G6PD của sơ sinh có cha là công nhân cũng cao hơn nghề khác (14,3% so với 3,1%) nhưng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Chúng tôi cũng nhận thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về giá trị trung bình của tuổi thai, tuổi cha, tuổi mẹ giữa 2 nhóm sơ sinh thiếu men và đủ men G6PD (p > 0,05). 
Kết luận: Tỷ lệ thiếu men G6PD ở sơ sinh được sinh ra tại các bệnh viện của tỉnh Ninh Thuận là 3,5%. Có mối liên quan giữa thiếu G6PD với: giới tính, dân tộc, vùng sinh thái, nghề nghiệp mẹ (thợ uốn tóc). Tuy nhiên, không có sự liên quan giữa thiếu G6PD với: tuổi thai, phân vùng sốt rét, tuổi cha, tuổi mẹ, nghề nghiệp cha.

ABSTRACT :

Background: The prevalence of Glucose-6-Phosphate Dehydrogenase deficiency among people living in malaria endemic areas is more higher than others. In Ninh Thuan, there are many ethnic groups and 61.8% of inhabitants living in malaria endemic areas. However, there is not any study on situation of Glucose-6-Phosphate Dehydrogenase deficiency in this area. We carried out the study on Glucose-6-Phosphate Dehydrogenase deficiency among newborns to propose intervention to prevent complications of this disease. 
Objective: To identify the prevalence and epidemic characteristics of Glucose-6-Phosphate Dehydrogenase deficiency among neonates born in all hospitals of Ninh Thuan province from January 2008 to June 2008. 
Method: A cross sectional study was carried out on 423 neonates born in all hospitals of Ninh Thuan province in the first six months of 2008 with systematic and stratified sampling method. Quantity of Glucose-6-Phosphate Dehydrogenase was measuered by WST-8/1- methoxy PMS method (Tantular I.S. 2003). Results: The mean of G-6-PD was 7.02 UI/g Hb, almost enzyme activities (79.9%) were type IV (According to WHO's classification). The prevalence of G-6-PD deficiency in neonates was 3.5%, the rate of G-6-PD deficiency in the Kinh was 2.2%, in the Cham was 7%, and in the Raglay group was 8.3%. Most of the G-6-PD deficient neonates had 37 weeks and more of gestational age (14/15), were 2,500 grammes and more in weight (13/15). Among fifteen G-6-PD deficient neonates twelve of them were boys, seven childs were Kinh group and ten of them lived in malaria endemic areas. The average gestational age was 38.2 weeks and the mean of weight was 3.100 grammes. The result of study showed that there was a significant difference of the rate of G-6-PD deficiency between boy (5.3%) and girl (1.5%); ethnic minority (7.2%) and Kinh (2.2%); living in mountianous region (6.9%) and coastal region (0.0%); their mothers were hairdressers (40%) and others (3.1%) (p < 0.05). Although the rate of G-6-PD deficiency of neonates living in malaria endemic areas was more higher than other areas (4.0% vs 2.9%) and the rate of G-6-PD deficiency of neonates whose fathers were workers was also more higher than others (14.3% vs 3.1%) but those differences were not significant. There was also no significant association between G-6-PD deficiency and among the average gestational age, mother's age, and father's age. 
Conclusion: The prevalence of G-6-PD deficiency in neonates born in all hospitals of Ninh Thuan province was 3.5%. There was a significant association between G-6-PD deficiency and among sex, ethnic, ecologic region, and occupation of mothers (hairdressers). However, there was no significant association between G-6-PD deficiency and among gestational age, age of parent, malaria region, and occupation of father.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF