Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2003 - Tập 7 - Số 1
TÌNH HÌNH TỬ VONG CHU SINH TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TỪ DŨ

Nguyễn Văn Dũng, Ngô Minh Xuân, Lê Diễm Hương, Nguyễn Thị Thanh Bình

TÓM TẮT :

Mục đích: Đánh giá tỉ lệ và những nguyên nhân chính gây tử vong chu sinh (TVCS) tại bệnh viện phụ sản Từ Dũ (BVPSTD), từ đó đề ra các biện pháp phòng chống thích hợp. Thiết kế: Nghiên cứu hồi cứu. Sử dụng toán thống kê (chi test) để so sánh tỉ lệ tử vong chu sinh năm 1996 vớ i năm 1998. Nơi thực hiện: Bệ nh viện phụ sản Từ Dũ. Dân số tham gia: Tổng cộng có 31404 trường hợp sinh năm 1996, 31581 năm 1997 và 25965 năm 1998. Phương pháp đo lường kết quả: Tỉ lệ tử vong chu sản chung theo cân nặng. Kết quả: Tỉ lệ TVCS trong các năm 1996-1997-1998 là 24,60/00, 17,80/00,16,90/00. Non tháng chỉ chiếm 9-10% tổng số sinh nhưng lại chiếm hơn 70% TVCS. Về nguyên nhân tử vong: Nguyên nhân tử vong sơ sinh trong 3 năm nói chung và của non tháng (cân nặng <2500 gr) nói riêng thì suy hô hấp (SHH) đứng hàng đầu, thứ 2 là dị tật bẩm sinh (DTBS), Ngạt đứng thứ 3 & nhiễm trùng sơ sinh (NTSS) đứng thứ 4. Với bé Đủ Tháng (cân nặng >= 2500 gr) thì ngạt đứng hàng đầu chiếm 42% sau đó là dị tật bẩm sinh (DTBS), NTSS đứng thứ 3 và SHH đứng thứ 4. Ngạt có TVCS là 0.970/00 và chiế m 42% trong tổng số các nguyên nhân tử vong của bé đủ tháng. Kết luận: TVCS trong 3 nă m 1996-1998 tại BVPSTD đã giảm rõ rệt (p<0.001) giảm tỉ lệ TVCS chủ yếu là do giảm tỉ lệ TVCS của hạng cân <2000 g của cả 2 tỉ lệ: thai chết lưu và tử vong sơ sinh sớm. Để giảm TVCS nhiều hơn nữa, đòi hỏi chúng ta cần phải tăng cường săn sóc tiền sản nhằm phát hiện sớm các sản phụ có nguy cơ cao, cũng như tăng cường chất lượng hồi sức sơ sinh sau sinh.

ABSTRACT :

Objective: evaluating rate and causes of the perinatal mortality (PNMR) from 1996 to 1998 at TUDU obstetric and gynecology hospital. Furthermore, we can point out some protective strategies appropriately to reduce PNMR. Design: Retrospective study, we use chi test in order to make a comparison of PNMR in 1996 and 1998. Setting: TUDU obstetric and gynecology hospital. Participants: A total 31404 births in 1996, 31581 births in 1997, and 25965 births in 1998. Main outcome measure: A crude PNMR and birth weight - specipic PNMR. Results: PNMR during 3 years 1996-1997-1998 were 24.60/00, 17.80/00, 16.90/00, preterm delivery accounts for 9-10% total up to 70% of perinatal mortality. In the causes of preterm and neonatal mortality of three years:the first is respiratory distress syndrome and after that is congenital malformation, asphyxia, neonatal infection, respectively. In the term mortality, the first is asphyxia, after that is congenital malformation, neonatal infection, respiratory distress syndrome, respectively, in which the asphyxia is 0.970/00 and 42% in all causes of PNMR. Conclusions: The perinatal mortality rate (PNMR) was decreased clearly in three years 1996-1998 of TUDU HOSPITAL (p < 0.001). The fall in PNMR was due to a fall primarily in low birth weight (LBW) under 2000 gram of still birth and early neonatal death rate. To decrease more in PNMR, we should have focus on prenatal care with identification of women at risk for LBW and increase quality of neonatal resuscitation.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF