Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2010 - Tập 14 - Số 1
KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU PHẪU THUẬT CẮT TUYẾN TIỀN LIỆT NỘI SOI NIỆU ĐẠO VỚI THULIUM: YAG LASER

Nguyễn Hoàng Đức, Phó Minh Tín

TÓM TẮT :

Mục tiêu: Đánh giá kết quả bước đầu phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt nội soi niệu đạo với năng lượng thulium: YAG laser
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả không nhóm chứng trên 25 BN phì đại lành tính tuyến tiền liệt có chỉ định can thiệp ngoại khoa bằng phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt nội soi niệu đạo với máy cắt năng lượng thulium:YAG laser (Revolix(r) - Lisa). Tác giả đánh giá: sự thay đổi của điểm số IPSS và lưu lượng dòng tiểu tối đa (Qmax) ở thời điểm trước mổ và 1 tháng sau mổ; tỷ lệ tai biến và biến chứng của phẫu thuật; thời gian mang thông niệu đạo sau mổ và thời gian nằm viện sau mổ.
Kết quả: Tuổi trung bình của BN là 74 ± 9,5 tuổi (nhỏ nhất 59 tuổi; lớn nhất 90 tuổi). Trung bình điểm số IPSS là 20 ± 3 (thay đổi từ 19 đến 25) và trung bình lưu lượng dòng tiểu tối đa là 7 ± 0,5 mL/s (thay đổi từ 6-10 mL/s). Tất cả BN đều có điểm ASA trước mổ từ 2 đến 3. Không có trường hợp nào chỉ số PSA >4 ng/mL. Khối lượng tuyến tiền liệt trước mổ là 59 ± 20,8 g (thay đổi từ 30 đến 100 g). Kỹ thuật mổ: 68% (n=17) cắt bốc hơi 3 thùy; 12% (n=3) cắt thùy giữa và xẻ cổ bàng quang; 20% (n=5) bóc toàn bộ tuyến tiền liệt. Thời gian mổ trung bình 88 ± 30 phút (ngắn nhất 40 phút; dài nhất 150 phút). Sau mổ nồng độ Hb máu giảm 0,7 ± 0,07 mg/dL (thay đổi 48giờ). Trung bình thời gian mang thông niệu đạo lưu là 28 ± 2,7 giờ. Không có trường hợp nào bí tiểu sau rút thông niệu đạo. Một tháng sau mổ, điểm IPSS giảm trung bình 12 ± 2,5 và lưu lượng dòng tiểu tối đa tăng lên trung bình 9,5 ± 2,8 mL/s. 
Kết luận: Cắt tuyến tiền liệt nội soi niệu đạo với năng lượng thulium: YAG laser là biện pháp can thiệp ít xâm hại và hiệu quả trong điều trị ngoại khoa phì đại lành tính tuyến tiền liệt

ABSTRACT :

Objective: the potential of a new continuous-wave 70-W, 2.013-mm thuliumdoped yttrium aluminium garnet (Tm:YAG) laser for the endoscopic treatment of benign prostatic hyperplasia (BPH) is investigated.
Methods: we retrospectively evaluated 25 BPH patients who were treated by thulium laser prostatectomy of the prostate in our institution between April and October 2009.Two surgical techniques were used: vaporesection (for prostate size below 50g) and enucleation (for prostate size above 50g). Assessed outcomes were the duration of the surgical procedure, the time of catheterisation and hospitalisation, the decrease in haemoglobin, and the blood transfusion rate. Catheters were removed when haematuria had settled sufficiently. Qmax nd PVR were measured on the day of discharge. All complications, such as the reintervention rate, postoperative urinary retention, or bleeding, were recorded
Results: the mean age of patient was 74 ± 9.5 years old. The mean prostate size was 59 ± 20.8 g. Surgical techniques included 80% vapresection and 20% enucleation. The mean procedure time was 88 ± 30 min. Postoperative irrigation was not necessary in any patient, and the mean duration of catheterisation was 28 ± 2.7 hr. At the day of discharge, the mean haemoglobin value decreased by 0.7 ± 0.07 mg/dL (p = 0.13). One month post operative, the mean Qmax improved was 9.5 ± 2.8 mL/s. The blood transfusion rate was 0%, and no patient needed a recatheterisation postoperatively. 
Conclusions: The thulium laser seems to be a suitable tool for the endoscopic treatment of BPH.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF