Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2010 - Tập 14 - Số 4
NHIỄM VI RÚT VIÊM GAN B Ở CÁC THÀNH VIÊN TRONG HỘ GIA ĐÌNH: NGHIÊN CỨU CỘNG ĐỒNG TẠI MỘT XÃ MIỀN NÚI PHÍA BẮC (XÃ BẢN QUA, HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI)

Nguyễn Thị Vân Anh(1), Nguyễn Văn Bàng(2)

TÓM TẮT :

Nhiễm virus viêm gan B (HBV) là vấn đề lớn của y tế cộng cộng, vì HBV là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây xơ gan và ung thư gan. 
Mục tiêu. (1) Xác định tỷ lệ mang HBsAg ở các thành viên của các hộ gia đình tại một cộng đồng miền núi phía Bắc, (2) tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình trạng mang HBsAg của quần thể này. 
Đối tượng, phương pháp. Nghiên cứu cắt ngang tại cộng đồng trên 798 đối tượng là thành viên của 253 hộ gia đình được chọn ngẫu nhiên từ 980 hộ với 3250 thành viên ở xã Bản Qua (Bát Xát, Lào Cai). Xác định HBsAg bằng kỹ thuật ELISA. Đánh giá mối liên quan về tình trạng mang HBsAg giữa các thành viên trong gia đình bằng test λ2, đánh giá nguy cơ mang HBsAg bằng phân tích đơn và đa biến logistic regression. 
Kết quả. Có 12,4% (99/798) số đối tượng mang HBsAg, tập trung trong 70 hộ gia đình gồm 281 thành viên. Nam giới có tỷ lệ HBsAg(+) là 15,6% (54/346), cao hơn rõ rệt so với tỷ lệ 10% (45/452) ở nữ giới (p<0,02) (OR (95% CI.): 1,67 (1,09-2,55)) trong toàn quần thể nghiên cứu và 40,8% (53/130) so với 30,5% (46/151) (p=0,071) (OR (95%CI.): 1,57 (0,96-2,57)) ở những người từ 70 hộ gia đình có người HBsAg(+). Nhóm người lớn (>18 tuổi) có tỷ lệ HBsAg(+) là 14,5% (56/385), cao hơn so với 10,4% (43/413) ở những trẻ ≤18 (p=0,077) (OR (95% CI): 1,47 (0,96-2,24)) trong toàn quần thể nghiên cứu, và rõ rệt hơn, giữa 42,6% (55/129) so với 28,9% (44/152) (p=0,016), (OR (95% CI): 1,67 (1,09-2,55) trong những gia đình có người HBsAg(+). Bố luôn có tỷ lệ HBsAg(+) cao hơn các thành viên khác trong gia đình, kể cả trong toàn quần thể: 23,1% so với 10,6-11% (p=0,004), (OR (95% CI): 1,69 (0,73-3,92)), cũng như trong các gia đình có người HBsg(+): 61,5% so với 23,1-40,8% (p=0,001), (OR (95% CI): 2,91 (1,02-5,68)). Trong nhóm 281 đối tượng thuộc 70 hộ gia đình có người HBsAg(+), con của những gia đình nhỏ (≤4 người) và ít con (1-2 con) có tỷ lệ HBsAg(+) cao hơn con các gia đình đông hơn (p=0,017) và đông con hơn (p=0,031); con đầu có tỷ lệ HBsAg(+) cao hơn các em (p=0,026). Chưa thấy có sự khác biệt về tỷ lệ HBsAg(+) giữa các nhóm dân tộc khác nhau cũng như chưa thấy rõ mối liên quan giữa tình trạng HBsAg(+) giữa mẹ và con.
Kết luận. Tỷ lệ HBsAg(+) ở quần thể nghiên cứu này nằm trong đặc điểm vùng dịch tễ cao của nước ta. Cần nghiên cứu sâu thêm các yếu tố khác bên ngoài hộ gia đình để làm sáng tỏ hơn vai trò lây truyền từ mẹ sang con cũng như vai trò tác động của gia đình đông đúc, nhiều con đối với tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B tại cộng đồng.

ABSTRACT :

Hepatitis B virus (HBV) infection is one of main preoccupations of public health in Vietnam due to its high prevalence and its devastating outcome. 
Objectives. To assess HBsAg(+) rate and risk factor for being HBsAg carriers among household members of a healthy population living in a mountainous multi-ethnic community in the northern border. 
Population and methods. A community-based cross-sectional study was carried out on 798 members of 253 households randomly selected among 3.250 inhabitants from 980 households of a mountainous multi-ethnic commune. HBsAg was determined by ELISA technique. Data related to demographic features were collected using structured questionnaire. The data were analyzed using λ2 test and univariate and multivariate logistic regression. 
Results. HBsAg rate was 12.4% (99/798), aggregated in 70 households with 281 subjects. Males were significantly more affected than females either in whole study population: 15.6% (54/346%) versus 10% (45/452), respectively, p<0.02), (OR (95% CI.): 1,67 (1.09-2.55)), or in aggregation with at least one HBsAg(+) person in the household: 40.8% (53/130) versus 30.5% (46/151) (p=0.071), (OR (95%CI.): 1.57 (0.96-2.57)). Adults (>18 years old) were significantly more HBsAg(+) than children (≤18 years old), either in the whole study population: 14.5% (56/385) versus 10.4% (43/413) (p=0.077) (OR (95% CI): 1.47 (0.96-2.24)) or in households with at least one HBsAg(+) person: 42.6% (55/129) versus 28.9% (44/152) (p=0.016), (OR (95% CI): 1.67 (1.09-2.55). HBsAg(+) rate was consistently higher in fathers than in other household members, either in the whole study population: 23.1% versus 10.6-11% (p=0.004), (OR (95% CI): 1.69 (0.73-3.92)), or in households with at least one HBsAg(+) person: 61.5% versus 23.1-40.8% (p=0.001), (OR (95% CI): 2.91 (1.02-5.68)). Among 281 members of 70 households with at least one HBsAg(+) person, children of households with small size (≤4 persons) or with small offspring size (1-2) were more affected than households with bigger size (p=0.017) or with larger size of offspring (p=0.031); and the first offspring was more affected than the youngers (p=0.026). There was no significant relationship either between HBsAg status of parents and that of their children or between different ethnic groups in this study. Conclusion. Prevalence of hepatitis B virus chronic carriers in this study population is compatible with those reported in previous studies in the country. Further indept studies with variables inside and outside household looking at the role of parent-to-children transmission as well as the role of promiscuity on hepatitis B virus transmission were warranted.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF