Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2010 - Tập 14 - Số 1
GIÁ TRỊ CỦA CÁC KỸ THUẬT : QUAN SÁT TRỰC TIẾP, KAT- KATZ VÀ SASA TRONG CHẨN ĐOÁN NHIỄM GIUN MÓC, GIUN LƯƠN

Nhữ Thị Hoa(1), Nguyễn Kiều Trinh(2), Nguyễn Thế Hùng(3), Hồ Thanh Phong(4)

TÓM TẮT :

Mục tiêu nghiên cứu : xác định giá trị của các phương pháp quan sát trực tiếp (QSTT), Kato-Katz (KK), Sasa (SS) trong chẩn đoán nhiễm giun móc, giun lươn ở học sinh cấp 1 & 2 huyện Củ Chi, Tp. HCM.
Phương pháp : nghiên cứu được tiến hành theo thiết kế mô tả cắt ngang trên 2.778 trẻ học cấp 1 & 2 huyện Củ Chi, TP. HCM được chọn từ phương pháp mẫu cụm một bậc (cụm = xã). Mỗi mẫu phân được xét nghiệm bằng quan sát trực tiếp, Kato-Katz, cấy phân Sasa và so sánh với tiêu chuẩn vàng là tập hợp hội các kết quả dương tính của ba kỹ thuật đối với giun móc, của hai kỹ thuật quan sát trực tiếp và Sasa đối với giun lươn. Độ nhạy (Sp), giá trị tiên đoán âm (PV-), trung bình thời gian tiêu biến trứng, tỉ lệ nhiễm, trung bình cường độ nhiễm được phân tích bằng Stata 8.0 ở ở mức tin cậy 95%, OR[KTC 95%].
Kết quả : tỉ lệ nhiễm và trung bình nhân số trứng trong 1 gram phân là 33,87% và 3,89 [3,5 - 4,3] với mức độ nhiễm trung bình-nặng là 4,52%. Nhìn chung, trong chẩn đoán giun móc, QSTT, KK và SS có độ nhạy lần lượt là 40,4%, 68,9%, 56,4% và giá trị tiên đoán dương là 76,6%, 86,2%, 81,8%. Trong cộng đồng nhiễm nhẹ, KK nhạy gấp 2,38 và 1,40 lần QSTT và SS; do đó khi phối hợp, cặp KK-SS và KK-QSTT cho kết quả cao hơn SS-QSTT 1,57 và 2,17 lần. Ở nhóm nhiễm nặng, QSTT và SS phát hiện giun móc mạnh gấp KK 3,08 lần và 5 lần; cặp SS-QSTT hiệu quả hơn 5,91 và 4,26 lần so với cặp KK-QSTT và KK-SS. Thời gian thích hợp để đọc tiêu bản KK sau khi chuẩn bị hoàn tất là 30 - 45 phút, nếu vượt quá, trứng có thể tiêu biến theo dạng tiêu phôi (75,53%) hoặc teo nhỏ (27,47%). Đối với giun lươn, cấy phân SS nhạy hơn QSTT 9,6 [3,84 - 30,9] lần (21,3% so với 91,8%).
Kết luận và kiến nghị : mẫu khảo sát thuộc cộng đồng nhiễm giun móc nhóm III và nhiễm giun lươn nhẹ. Phối hợp QSTT mẫu phân cố định với kỹ thuật KK là lựa chọn ưu tiên để phát hiện bệnh trong vùng nội dịch giun móc và giun lươn tại Việt Nam. Ở bệnh viện, nên khuyến cáo sử dụng cấy phân Sasa đối với cơ địa cần điều trị corticoides kéo dài nhưng nghi ngờ bị nhiễm giun lươn. Thời gian tối ưu từ lúc chuẩn bị hoàn tất tiêu bản KK đến khi được phép đọc là 30 - 45 phút với điều kiện nhiệt độ phòng khoảng 28oC - 29oC.

ABSTRACT :

Objective: to determine accuracy of the three techniques: direct smear (DS), Kato-Katz (KK) and Sasa (SS) in the detection of hookworm and Strongyloides stercoralis infestation among primary and secondary schoolchildren of Cu Chi district, HCM city in 2007. 
Methods: a cross-sectional descriptive study was conducted among 2,778 primary & secondary schoolchildren of Cu Chi district, HCM city in 2007. The subjects were chosen via one-step cluster sampling (with commune as cluster) and diagnosed for hookworm infestation and Strongyloidiasis via direct smear, Kato-Katz and Sasa methods. These techniques were compared to the gold standard which was defined when at least one of the three techniques indicated possitive results in case of hookworms, and when DS and/or SS indicated positive results in case of eelworm. Sensitivity, negative predictive value, mean degeneration time of hookworm egg, prevalence, mean of eggs per gram of feces were analysed with Stata 8.0.
Results : hookworm prevalence is 33.87%, and geometric mean of eggs per gram of feces is 3.89 [3.5 - 4.3], with 4.52% cases as moderate and severe infestations. Overall for hookworm, sensitivities of DS, KK, SS are 40.4%, 68.9%, 56.4%, respectively, and negative predictive values are 76.6%, 86.2%, 81.8%, respectively. In light hookworm infestation, the sensitivity of KK is 2.38 and 1.40 times as high as that of DS and SS, respectively, therefore, the combinations of KK-SS, KK-DS will detect hookworm more frequently than SS-DS combination 1.57 and 2.17 times, respectively. In severe infestation, DS and SS are 3.08 and 5 times as sensitive as KK, respectively; combination of SS-DS is 5.91 and 4.26 times as sensitive as than combinations of KK-DS and KK-SS, respectively. It is more appropriate to wait for 30-45 minutes before reading the KK smear; if the standing time is longer, degeneration of eggs will appear in two forms: eggs with destroyed embryo (75.53%) or atrophied eggs (27.47%). For Strongyloides stercoralis, the prevalence is 2.20%, SS technique is 9.6 [3,84 - 30,9] times as sensitive as DS (21.3% vs. 91.8%).
Conclusions and recommendations: the studied subjects belong to hookworm infested community of group III and light S. stercoralis infested community. Combination of DS-KK is the first-choice method for detection in endemic area of hookworm and S. stercoralis in Viet Nam. In hospital, Sasa technique should be recommended for patients under corticosteroid therapy with suspect S. stercoralis infestation. The optimal standing time before reading KK smear is 30 - 45 minutes at 28oC - 29oC.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF