Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2005 - Tập 9 - Số 1
ĐẶC ĐIỂM BỆNH TIỂU ĐƯỜNG TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2

Lê Thị Ngọc Dung, Trần Thị Minh Châm

TÓM TẮT :

Mục tiêu nghiên cứu: mô tả đặc điểm về lâm sàng, cận lâm sàng, biến chứng và điều trị ở tiểu đường trẻ em.
Phương pháp nghiên cứu: hồi cứu và mô tả 24 trẻ tiểu đường nhập viện từ 1998 đến tháng 6/2004 tại BV Nhi Đồng 2.
Kết quả nghiên cứu: chúng tôi ghi nhận bệnh ưu thế ở nữ (62,5%). Tuổi trung bình là 9,5tuổi. Lý do nhập viện thường gặp nhất là mệt mỏi, sụt cân và rối loạn tri giác. Nhiễm trùng hô hấp là yếu tố khởi phát chủ yếu (77,5%). Thời gian khởi phát trung bình là 45 ngày. 62,5% trẻ có dinh dưỡng bình thường. Triệu chứng thường gặp nhất là tiểu nhiều, uống nhiều, sụt cân, ăn nhiều. 41,67% trẻ có nhiễm ceton máu với các triệu chứng nổi bật là rối loạn tri giác (37,5%), nhịp thở Kussmaul (37,5%), mất nước (33,3%). Đường huyết trung bình lúc nhập viện là 398,79±121 mg%. 37.5% trẻ cần truyền dịch và insulin, chỉ có 3 trẻ toan máu nặng cần bù toan. Liều insulin trung bình là 1,28 UI/kg/ngày. Đa số có thời gian ổn định đường huyết ngắn 1-2 tuần.
Kết luận: bệnh tiểu đường trẻ em là bệnh hiếm gặp, nếu bệnh được phát hiện sớm, điều trị đúng thì tiên lượng tốt.

ABSTRACT :

Objective: description of clinical manifestations, laboratory findings, complications and treaments for diabetes mellitus in children.
Method: a retrospective and descriptive study for 24 cases of diabetes mellitus at Children's Hospital No2 from 1998 to June 2004.
Result: Females were more affected (62.5%). Patients ranged in age from 2,5 months to 15 years (median: 9.5 years). The hospitalizations were often caused by weakness, weight loss, altered consciousness.The precipitating factors were mostly respiratory infections (77.5%). The median duration of diagnosis was 45 days. Most children had normal-weight (62.5%). The symtoms were often polyuria, polydipsia, weight loss, polyphagia. There were 41.67% cases suffering from ketoacidosis with altered consciousness (37.5%), Kussmaul breathing (37.5%) and dehydration (33.3%). The mean glycemia at admission was 398.79 ± 121 mg%. There were 37.5% cases requiring correction of deficits with fluids and insulin therapy. Alkali therapy was used for 3 cases of severe ketoacidosis. The mean dose of insulin was 1,28 UI/kg/d. Most cases recovered within 1 to 2 weeks.
Conclusion: diabetes mellitus in children is rare disease; with early diagnosis and accurate treament, we will have good prognosis.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF