Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2011 - Tập 15 - Số 3
ĐIỀU TRỊ VIÊM RUỘT THỪA THỦNG Ở TRẺ EM: SO SÁNH GIỮA PHẪU THUẬT NỘI SOI VÀ MỔ MỞ

Trần Ngọc Sơn, Vũ Mạnh Hoàn, Nguyễn Thanh Liêm

TÓM TẮT :

Mục tiêu: Mặc dù phẫu thuật nội soi được sử dụng rộng rãi trong các trường hợp viêm ruột thừa đơn thuần, ứng dụng của kỹ thuật này trong điều trị ruột thừa viêm thủng ở trẻ em vẫn còn nhiều bàn luận. Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá tính khả thi và hiệu quả của phẫu thuật nội soi so với mổ mở trong điều trị ruột thừa viêm thủng ở trẻ em.Đối tượng phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu lại tất cả các bệnh nhân được phẫu thuật điều trị ruột thừa viêm thủng tại Bệnh viện Nhi Trung Ương từ tháng 6/2007 tới tháng 12/2010. Lựa chọn chỉ định phẫu thuật nội soi hay mổ mở tùy thuộc vào chủ quan phẫu thuật viên. Các dữ liệu được tập hợp phân tích bao gồm biểu hiện lâm sàng, mô tả trong mổ, kỹ thuật mổ (phẫu thuật nội soi hay mổ mở) và kết quả điều trị (thời gian nằm viện, biến chứng sau mổ).Kết quả: Có 483 bệnh nhân thuộc đối tượng nghiên cứu với tuổi trung bình 6,2 tuổi (dao động 1-15 tuổi), thời gian trung bình từ khi bắt đầu triệu chứng đến khi phẫu thuật là 3,1 ngày (dao động 1-14 ngày). 260 bệnh nhân được chỉ định phẫu thuật nội soi và 223 bệnh nhân được chỉ định mổ mở. Không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa 2 nhóm phẫu thuật nội soi và mổ mở về tuổi, giới nhưng thời gian bị bệnh ở nhóm phẫu thuật nội soi là ngắn hơn đáng kể so với nhóm mổ mở (2,4 so với 4 ngày, p < 0,001). Trong nhóm bệnh nhân được chỉ định phẫu thuật nội soi, có 43 trường hợp phải chuyển mổ mở (16,5%). Các yếu tố có liên quan đến chuyển mổ mở bao gồm vị trí ruột thừa ở sau manh tràng hay dưới gan phải (p = 0,01), kinh nghiệm mổ nội soi của phẫu thuật viên (p = 0,05) nhưng không phải là thời gian bị bệnh (p = 0,13). Không có bệnh nhân nào tử vong. Thời gian nằm viện trung bình sau phẫu thuật nội soi và mổ mở là gần như nhau (6,1 so với 6,2 ngày, p = 0,2). Tuy nhiên tỷ lệ biến chứng sau mổ (nhiễm khuẩn vết mổ, viêm phúc mạc khu trú kéo dài, tắc ruột dính sau mổ) ở nhóm phẫu thuật nội soi là thấp hơn có ý nghĩa thống kê (2,3% so với 6,7%, p = 0,02).Kết luận: Phẫu thuật nội soi là khả thi, an toàn và ít nhất là cho kết quả tốt tương đương với mổ mở trong điều trị ruột thừa viêm thủng ở trẻ em. Biến chứng sau mổ phẫu thuật nội soi là ít hơn so với mổ mở. Tỷ lệ phẫu thuật nội soi chuyển mổ mở hiện tại còn tương đối cao. Với tích lũy kinh nghiệm và hoàn thiện kỹ thuật mổ nội soi, tỷ lệ chuyển mổ mở có thể được giảm xuống thấp hơn.

ABSTRACT :

Objective: While laparoscopic surgery (LS) has been widely used for treatment of simple appendicitis, it's application for treatment of perforated appendicitis (PA) in children is still controversial. The aim of this study is to investigate the feasibility and effectiveness of LS in treatment of PA in comparison to open surgery (OS). Methods: Medical records of all patients treated for PA in National Children's Hospital, Hanoi, Vietnam from June 2007 to December 2010 were reviewed. The choice of surgical method was subjective to the surgeon's preference. Clinical presentations, intra-operative findings, surgical methods (laparoscopic or open surgery) and results were analyzed. Results: There were 483 patients treated for PA with mean age of 6.2 years (range 1 to 15 years), mean duration from the onset of symptoms to the surgery was 3.1 days (range 1 to 14 days). 260 patients were operated by LS and 223 - by OS. There were no significant difference between the LS group and OS group regarding age, sex but the mean duration of symptoms (2.4 days versus 4 days, respectively, p < 0.001). In LS group, conversion to laparotomy was required in 43 cases (16.5%). Factors related to the conversion were retrocecal or subhepatic location of the appendix (p = 0.01), laparoscopic experience of the surgeon (p = 0.05), but not the duration of symptoms (p = 0.64). There was no death in both groups. The mean hospital stay after LS and OS was similar (6.1 days and 6.2 days respectively, p = 0.2). However, the rate of postoperative complications (wound infection, persistent local peritonitis, adhesive bowel obstruction) was significantly lower in the LS group (2.4% versus 7.2%, respectively, p = 0.01). Conclusions: Laparoscopic surgery is feasible, safe and at least as effective as open technique in treatment for perforated appendicitis. Complications after LS seem to be less than OS. The current rate of conversion is still high. With more experience and improvement of the laparoscopic skills, the rate of conversion could be decreased.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF