Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2011 - Tập 15 - Số 2
CHUẨN HÓA PHƯƠNG PHÁP ĐẶT TÚI NGỰC QUA ĐƯỜNG NẾP DƯỚI VÚ

Lê Hành

TÓM TẮT :

TÓM TẮTPhẫu thuật nâng to ngực hiện nay rất phổ biến tại Việt Nam do tố chất người Á Đông có bộ ngực khiêm tốn và cùng với đời sống được nâng cao cho phép họ cải thiện ngoại hình. Mặc dù đã có nhiều tiến bộ kỹ thuật trong việc chế tạo túi ngực cũng như kỹ thuật mổ, phẫu thuật đặt túi ngực vẫn còn nhiều biến chứng hay kết quả không vừa ý, đôi khi dẫn đến những khiếu kiện giữa bệnh nhân và bác sĩ rất phiền phức. Biến chứng khó chịu nhất về tần suất xuất hiện cũng như mức độ ảnh hưởng đến thẩm mỹ và sức khỏe của bệnh nhân là bao xơ co thắt. Nghiên cứu này nhằm mục đích tìm những tiêu chí về kỹ thuật để giúp cho phẫu thuật nâng to ngực bằng túi trở thành một phẫu thuật an toàn, ít biến chứng, ít phải mổ lại và thỏa được nhu cầu về thẩm mỹ cho bệnh nhân.Đối tượng và phương pháp: Số lượng bệnh nhân gồm 224 trường hợp được mổ nâng to ngực bằng cách đặt túi ngực. Kỹ thuật mổ: đường vào được chọn: đường nếp dưới vú. Khoang đặt túi: dưới cơ ngực lớn. Kỹ thuật bóc tách: bằng dao điện. No Touch technic. Áp dụng kỹ thuật vô trùng nghiêm ngặt. Túi ngực được chọn: túi gel tròn nhám và túi giọt nước. Không đặt dẫn lưu.Kết quả: 224 trường hợp đã được mổ theo kỹ thuật nêu trên; 40% được đặt túi tròn nhám và 60% được đặt túi giọt nước. Thời gian theo dõi từ 6 tháng đến 3 năm. Tỷ lệ bao xơ co thắt: 0, tỷ lệ sẹo xấu là 20/224, 1 trường hợp nhiễm trùng 1 bên phải mổ lấy túi ra, 1 trường hợp ngực nhỏ phải mổ lại đặt túi lớn hơn. Kết quả chung đạt rất tốt và tốt là 96%.Kết luận: Nghiên cứu này đã chứng tỏ kỹ thuật mổ dùng đường vào dưới nếp vú, đặt túi dưới cơ và sử dụng túi nhám, túi giọt nước là một phương pháp phối hợp nâng to ngực an toàn và thỏa được những đòi hỏi về thẩm mỹ. Các biến chứng như bao xơ co thắt... được giảm đến mức tối đa trong thời gian theo dõi 3 năm

ABSTRACT :

ABSTRACTThe demand of improving the appearance of the breasts through surgery for Asian women who naturally have small, flat chests and lead a well-improved life are always popular. In spite of much technical progress made in manufacture of breast implants as well as surgical techniques, surgical breast augmentation remains many complications and unsatisfying results which sometimes cause annoying claims between the surgeon and his patient. The most uncomfortable side-effect on frequency and as well as effective level towards aestheticism and patients' health is capsular contracture. The goal of this study is to standardize surgical techniques of breast augmentation in order to help it become safe with less complications and reoperation rate and finally, meet the satisfaction of patients. Object and method: The patients in our series are women with undesirable breasts: flat, small, under volume, sagging, asymmetric... who want to have an improvement using the implant breast augmentation. Surgical technique : selected approach : inframammary; pocket: submuscular; dissection method; using hyfrequency scapel; no-touch technique; strictly aseptic technique applied; implant selected: texture round or anatomic shape; Drainage: none .Result: 224 cases were given the above mentioned surgical technique; 40% of which were inserted texture round implants; the rest were placed anatomic implants .The follow-up period is from 6 months to 3 years. Rate of the capsular contracture: 0. Rate of unexpected scars: 20 / 224. A case infected on one side, an bilateral explantation has been done . One reoperation case for changing to a bigger implant size. Conclusion: This study demonstrates that the breast augmentation using the inframammary approach , submuscular pocket, texture and anatomic implants, strictly aseptic manipulation is a surgical technique of safe breast augmentation and satisfaction of aesthetic requirements. The side-effects such as capsular contracture are decreased at maximum in 3 years' follow-up.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF