Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2011 - Tập 15 - Số 2
MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾT QUẢ CÓ THAI CỦA THỤ TINH ỐNG NGHIỆM CHO - NHẬN NOÃN TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG

Vũ Minh Ngọc(1), Nguyễn Viết Tiến(2), Phạm Thị Hoa Hồng(2)

TÓM TẮT :

TÓM TẮTTÓM TẮTMục đích: Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả có thai của thụ tinh ống nghiệm cho nhận noãn. Phương pháp: nghiên cứu mô tả 252 chu kỳ thụ tinh ống nghiệm cho - nhận noãn tại Bệnh viện Phụ sản Trung Ương trong 2 năm 2008 - 2009. Kết quả: tỷ lệ có thai lâm sàng là 31,3%. Về phía người nhận noãn: tuổi vợ, thời gian vô sinh, xét nghiệm FSH, số lần IVF và chất lượng tinh trùng của chồng không có sự khác biệt giữa 2 nhóm có thai lâm sàng và không có thai lâm sàng ở người nhận. Tỷ lệ có thai cao hơn hẳn ở nhóm người nhận vô sinh nguyên phát so với nhóm vô sinh thứ phát (41,8% và 23,2% p = 0,002). Tỷ lệ có thai cũng được xác định cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm chỉ định xin noãn do suy BT (44,3%), IVF thất bại (42,3%) so với nhóm đáp ứng kém, dự trữ BT giảm, lớn tuổi (27,2%) và do bất thường NST với (0,0%) với p = 0,03. Tuổi trung bình của chồng người nhận cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm không có thai lâm sàng với p = 0,024. Trong quá trình chuẩn bị NMTC, thời gian dùng E2, độ dày NMTC tương đương giữa 2 nhóm có thai và không có thai, tuy nhiên tỷ lệ có thai cao hơn hẳn ở nhóm NMTC dạng 3 lá so với nhóm khác (45,6% và 10,6%p < 0,001). Về phía người cho noãn: tuổi, xét nghiệm FSH ngày 3, BMI không có sự khác biệt giữa 2 nhóm có thai và không có thai. Tỷ lệ có thai ở 2 nhóm cùng huyêt thống và khác huyết thống với người nhận là tương đương (30,0% và 32,2% p >0,05). Tỷ lệ có thai ở người nhận cũng không có sự khác biệt giữa 3 nhóm dùng phác đồ dài, ngắn agonist và phác đồ antagonist (31,1%; 31,3% và 40% p > 0,05). Nhưng số noãn thu được cao hơn hẳn ở nhóm có thai lâm sàng so với nhóm không có thai (8,48 ± 4,22 và 7,18 ± 3,99 p = 0,02). Về đặc điểm chu kỳ: tỷ lệ có thai tương đương giữa 2 kỹ thuật thụ tinh IVF và ICSI (33,3% và 29,4% p > 0,05) cũng như giữa chuyển phôi ngày 2 so với chuyển phôi ngày 3,4 (32,3% và 28,1% p > 0,05). Tuy nhiên, số phôi chuyển ở nhóm có thai cao hơn rõ rệt so với nhóm không có thai (4,23 ± 0,7 và 3,6 ± 1,04 p = 0,000). Kết luận: các đặc điểm loại vô sinh, chỉ định xin noãn, tuổi chồng, hình dạng NMTC vào ngày cho progesteron, số noãn thu được và số phôi chuyển có thể là các yếu tố dự báo được kết quả có thai lâm sàng trong chu kỳ TTTON cho - nhận noãn.

ABSTRACT :

ABSTRACTObjectives: To investigate factors that relate to pregnancy outcome of oocyte donation IVF cycles. Materials and methods: descriptive cross-sectional study on 252 IVF cycles of oocyte donation at National Hospital of Obstetrics and Gynecology in 2008-2009. Results: The clinical pregnancy rate (CPR) was 31.3%. Per recipients: there was no statistical significance among group of clinical pregnancy compared to group of clinical non - pregnancy in terms of wife age, infertility duration, FSH level on day 3 and number of IVF cycles. The CPR among primary infertility group was higher than that of secondary infertility group (41.8% vs. 23.2%, p = 0.002). The CPR was also significantly higher among recipient with indications of ovarian failure (44.3%), IVF failure (42.3%), compared to recipient with poor response, low ovarian storage, older age (27.2%) and abnormal chromosomes (0.0%,p = 0.03). Mean age of husband of recipients was significantly higher among group of clinical non-pregnancy (p=0.024). During the period of endometrial preparation: the duration of E2 therapy, endometrial thickness was similar among both group of pregnancy and non-pregnancy, however, the pregnancy rate was much higher among group with triple-line endometrial pattern, compared to others (45.6% vs. 10.6%, p <0.0001). Per oocyte donors: there was no statistical significance among group of clinical pregnancy compared to group of clinical non-pregnancy in terms of age, FSH level on the day 3, and BMI . The CPR was similar among relatives and non-relatives groups (30.0% vs. 32.2% p >0.05). No significant difference was found in terms of pregnancy rate among three groups with long protocol, agonist short protocol, and antagonist protocol (31.1%; 31.3% vs 40%, respectively, p > 0.05). However, number of oocytes obtained was much higher among group of clinical pregnancy, compared to group of clinical non-pregnancy (8.48 ± 4.22 vs. 7.18 ± 3.99, p = 0.02). Per cycle characteristics: CPR was similar among two techniques (IVF vs. ICSI,33.3% vs. 29.4%, p > 0.05), as well as among group with embryo transferred on the day 2, compared to that on the day 3 or 4 (32.3% vs. 28.1%, p > 0.05). However, the number of embryos transferred was higher among pregnancy group, compared to non-pregnancy group (4.23 ± 0.7 vs. 3.6 ± 1.04, p = 0.001). Conclusion: Infertility characteristics, indications of oocyte donation, age of husband, endometrial pattern on the day of progesterone given, number of oocytes obtained, and number of embryos transferred can be predictive factors for the result of clinical pregnancy in oocyte donation cycles.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF