Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2011 - Tập 15 - Số 4
VAI TRÒ CỦA PHẪU THUẬT NỘI SOI TRONG ĐIỀU TRỊ SA TOÀN BỘ TRỰC TRÀNG VÀ SA SINH DỤC

Trần Phùng Dũng Tiến, Lâm Việt Trung, Nguyễn Minh Hải

TÓM TẮT :

Mục tiêu: Đánh giá vai trò của khâu treo trực tràng và âm đạo có sử dụng mesh qua nội soi ổ bụng.Phương pháp: Chúng tôi hồi cứu 42 trường hợp phẫu thuật nội soi treo trực tràng vào ụ nhô có dùng mảnh ghép mesh Polypropylene tại Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 8/2004 đến tháng 12/2010. Trong đó có 11 ca có sa sinh dục độ 3, độ 4 kèm theo được khâu treo âm đạo bằng mesh vào ụ nhô. Thời gian theo dõi trung bình là 18 tháng (1 - 60).Kết quả: Tuổi trung bình là 60,8 (16-87 tuổi). Nam chiếm 42,9%, nữ chiếm 57,1%. Thời gian mổ trung bình 160 phút (85-270). Thời gian trung tiện trung bình 3 ngày. Thời gian nằm viện trung bình là 5,6 ngày. Có 01 trường hợp nào bị tái phát sau mổ. Táo bón được cải thiện tốt hơn so trước mổ, ngoại trừ 4(9,52%) trường hợp táo bón diển tiến nặng hơn phải dùng thuốc nhuận trường liên tục sau mổ. Có một trường hợp són phân sau mổ do sa trực tràng lâu ngày có yếu cơ thắt được điều trị nội khoa ổn định. Có 1 trường hợp tụ máu thành bụng và 1 trường hợp bị thoát vị mạc nối lớn qua lỗ trocar sau phẫu thuật 10 ngày. Không có tử vong do phẫu thuật. Kết luận: Phẫu thuật nội soi treo trực tràng vào ụ nhô bằng mesh có nhiều ưu điểm: an toàn, hiệu quả, tỉ lệ ti phát thấp. Trong trường hợp có sa sinh dục kèm theo ở bệnh nhân lớn tuổi, phẫu thuật nội soi treo âm đạo vào ụ nhô phối hợp là lựa chọn thích hợp.

ABSTRACT :

Aim: To evaluate the role of laparoscopic suturing rectopexy and genitopexy for rectal prolapse and genital prolapse.Methods: We retrospectively review 42 cases of laparoscopic rectopexy to promontory with mesh Polypropylene at ChoRay hospital from 8/2004 to 12/2010. Ten cases had concurrent genital prolapse grade 3 and 4 which had also been treated with mesh suturing to promotory. The average time of following-up is 18 months (1- 60). Results: Mean age was 60.8 (16 - 87). Male was 42,9% and female was 57,1%. Mean operation time was 160 minutes (85 - 270). Mean time of bowel movement was 3 days and mean hospital stay was 5.6 days. 01 cases of recurrence in the third postoperative day. Patient with constipation was improved postoperatively except 4 cases (9.52%) constipation was more severe which required prolonged laxatives. There was 1 case with fecal incontinence which had been improved by medical treatment. There was 1 case with abdominal wall hematoma and 1 case with hernia of great omentum through trocar site. There was no mortality. Conclusion: Laparoscopic rectopexy with mesh to promontory has many advantages: safe, effective and low recurrent rate. In case of concurrent genital prolapse in old age female patient, laparoscopic genitopexy to promontory with mesh is an appropriate alternative.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF