Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2008 - Tập 12 - Số 1
VAI TRÒ LÀM DÍNH MÀNG PHỔI BẰNG TALC QUA ỐNG DẪN LƯU TRONG ĐIỀU TRỊ TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI TỰ PHÁT THỨ PHÁT

Ngô Thanh Bình

TÓM TẮT :

Mục tiêu: Đánh giá vai trò điều trị hỗ trợ của làm dính màng phổi bằng talc qua ống dẫn lưu màng phổi trong điều trị tràn khí màng phổi tự phát thứ phát (TKMPTPTP). 
Phương pháp nghiên cứu: Thực nghiệm can thiệp điều trị lâm sàng. 
Kết quả: từ 01/2002 đến 12/2006, có 123 trường hợp TKMPTPTP (gồm 109 nam giới, 14 nữ giới). Tỉ lệ mắc bệnh nam:nữ là 7,79:1. Phần lớn xảy ra ở lứa tuổi trên 40 tuổi (95,12%). Tuổi trung bình là 62,3 (từ 21 - 85 tuổi). TKMPTPTP tái phát gặp nhiều hơn TKMPTPTP lần đầu tiên nhưng không đáp ứng với đặt ODLMP (thời gian đặt ODLMP kéo dài quá 7 - 10 ngày) (76,42% so với 23,58%). Tỉ lệ thành công của LDMP bằng talc qua ODLMP (tính đến thời điểm xuất viện) là 93,5% với thời gian trung bình lưu ODLMP là 3,89 ngày (giới hạn từ 1 - 21 ngày). Ba biến chứng sớm là đau ngực (53,66%), sốt (26,02%) (xảy ra ngay trong vòng 4 giờ đầu tiên) và ho khan (28,46%) (xảy ra trong khoảng 4 - 12 giờ sau bơm talc màng phổi). Ngoài ra, có 3 trường hợp mủ màng phổi nhưng đáp ứng tốt với điều trị kháng sinh. Sau thời gian theo dõi từ 1 - 4 năm, tỉ lệ TKMP tái phát là 8,82% và biến chứng muộn là đau ngực nhẹ (44,12%) (chỉ xảy ra khi gắng sức nhưng không ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động hàng ngày). Không trường hợp tử vong nào có liên quan đến nguyên nhân gây ra do talc. Đồng thời, không có xảy ra những biến chứng trầm trọng (suy hô hấp cấp, tụt huyết áp,...) trong thời gian theo dõi sau LDMP bằng talc. 
Kết luận: Làm dày dính màng phổi bằng talc qua ODLMP có hiệu quả và an toàn trong điều trị TKMPTPTP.

ABSTRACT :

Objective: to evaluate the role of adjunctive treatment of pleurodesis by talc through chest drainage tube in the treatment of secondary spontaneous pneumothorax (SSP). 
Method: Clinical experimental study Result: From 01/2002 to 12/2006, there were 123 cases of SSP (included 109 male and 14 female patients). The incidence ratio of male:femal was 7.79:1. Most of them occurred in age group over 40 (95.12%). The average age was 62.3 (range, 21 to 85). Recurrent SSP occurred more than first SSP (which didn't response with chest drainage; time for chest drainage lasted over 7 - 10 days) (76.42% versus 23.58%). Rate of success of talc pleurodesis at discharged time was 93.5%, with an average duration of drainage chest tube was 3,89 days (range, 1 to 21). Three early complicated signs were chest pain (53.66%), fever (26.02%) in the first four- hour time and cough (28.46%) in a 4 - 12 hour time after talc pleurodesis. Besides, there were 3 cases of empyema but they had good responses to antibiotic therapies. After monitoring in 1-4 year period, rate of recurrent pneumothorax was 8.82% and lately complication was light chest pain (44.12%)(only occurred after excessive actions but they didn't influence patient's activities significantly). The causes of death were unrelated to the pleurodesis. Simultaneously, we haven't detected orther severe complications (acute respiratory failure, hypotension,...) in the follow-up after talc pleurodesis. 
Conclusion: Pleurodesis by talc through chest drainage tube was high effective and safe in the treatment of SSP.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF