Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2009 - Tập 13 - Số 5
KHẢO SÁT THAY ĐỔI HUYẾT ĐỘNG, ĐIỆN GIẢI, KIỀM TOAN VÀ RỐI LOẠN ĐÔNG MÁU Ở BỆNH NHÂN SỐC SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ DUNG DỊCH HYDROXYETHYL STARCH 200/0.5

Bạch Văn Cam, Nguyễn Bạch Huệ, Nguyễn Minh Tiến, Trần Hoàng Út, Lâm Thị Thúy Hà, Mã Tú Thanh, Lý Tố Khanh, Võ Thanh Vũ, Hồ Thụy Kim Nguyên, Bạch Nguyễn Vân Bằng, Vưu Thanh Tùng, Thái Quang Tùng

TÓM TẮT :

Mục tiêu: khảo sát thay đổi huyết động, điện giải, kiềm toan và rối loạn đông máu ở bệnh nhân sốc sốt xuất huyết dengue được điều trị dung dịch hydroxyethyl starch 200/0.5 nhập viện nhi đồng I từ tháng 10/2008 đến tháng 12/2008 Thiết kế: Tiền cứu, mô tả hàng loạt trường hợp Kết quả: Nghiên cứu 30 trường hợp sốc sốt xuất huyết được truyền dung dịch HES 200/0.5, tuổi trung bình 7.3 tuổi, nhỏ nhất là 11 tháng, lớn nhất là 14 tuổi, đa số là độ III (80%). Khảo sát huyết động học trong vòng 24 giờ sau truyền dung dịch HES 200/0.5 cho thấy cải thiện tình trạng sốc với trị số nhịp mạch trung bình giảm có ý nghĩa sau 4 giờ (113.1 vs.100.6), cải thiện hiệu áp sau một giờ điều trị, trong khi huyết áp tâm thu, tâm trương, trung bình ổn định ở mức 103.4 - 107.6 mmHg, 66.2-78.8 mmHg, 79.1-83.6 mmHg tương ứng. Dung tích hồng cầu trung bình (Hct) sau truyền HES một giờ là 39.4% cải thiện có ý nghĩa so với ban đầu là 43.2% và ổn định sau đó ở mức 34-36.3%. Không có sự thay đổi đáng kể nồng độ điện giải natri, chlor, kali, calci máu cũng như sự thay đổi đáng kể tình trạng kiềm toan ngoại trừ kiềm dư - base excess giảm có ý nghĩa ở giờ thứ 24 so với ban đầu. Lactate máu giảm đáng kể ở giờ thứ 6 sau truyền dung dịch HES, đường huyết thay đổi không đáng kể. Thời gian đông máu nội sinh APTT có khuynh hướng tăng nhưng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, thời gian đông máu ngoại sinh PT không thay đổi đáng kể ở các thời điểm 12, 24 giờ so với ban đầu. Lượng dung dịch HES được sử dụng trung bình là 111.8 ± 37.4 ml/kg trong thời gian trung bình là 24.2 ± 7.4 giờ. Biến chứng có thể do truyền dung dịch HES bao gồm suy hô hấp (13.3%) do tràn dịch màng phổi, màng bụng; xuất huyết tiêu hóa (6.6%). Không ghi nhận run tiêm truyền hay sốc phản vệ khi truyền dung dịch HES. Kết quả điều trị không có tử vong. Kết luận: Nghiên cứu giúp các bác sĩ lâm sàng có thêm một chọn lựa dung dịch HES 200/0.5 đáng tin cậy để điều trị sốc sốt xuất huyết ngoài các dung dịch điện giải, dextran vì có tác dụng chống sốc tương đối tốt, ổn định nhanh tình trạng huyết động, cải thiện tưới máu cơ quan, giảm cô đặc máu và tương đối an toàn đối với tình trạng đông, chảy máu, ổn định nội môi điện giải, thăng bằng kiềm toan. Tuy nhiên, việc áp dụng dung dịch HES 200/0.5 ở bệnh nhân sốc sốt xuất huyết kéo dài cần được nghiên cứu tiếp tục để có kết luận chính xác về tính hiệu quả và an toàn của loại dịch này.

ABSTRACT :

Objectives: To explore hemodynamic, electrolytes, acid-base changes and coagulation disorders in Dengue shock syndrome (DDS) treated with HydroxyEthyl Starch 200/0.5 solution admitted at children's hospital No.1 from October 2008 till December 2008. Design: Prospective case series study Results: 30 DDS children treated with HydroxyEthyl Starch 200/0.5 solution were investigated. The mean age was 7.3 years old, ranging from 11 months old to 14 years old, almost grade III (80%). Assessment of hemodynamic changes within 24 hours after HES 200/0.5 infusion showed that shock condition improved with reduced mean heart rate at 4th hours (113.1 vs. 100.6), widened pulse pressure at first hour while systolic, diastolic, mean blood pressures stabilized at level of 103.4 - 107.6 mmHg, 66.2-78.8 mmHg, 79.1-83.6 mmHg. Mean Hct at first hour of HES 200/0.5 infusion was 39.4% comparable to 43.2% one at the beginning and stabilized at level of 34-36.3% latter on. No significant changes in serum sodium, chlor, potassium, calcium and acid-base status were noted. Level of blood lactate reduced significantly at 6th hour after HES 200/0.5 infusion. APTT prolonged slightly, PT changed a little comparable to baseline. The average amount of infused HES 200/0.5 was 111.8 ± 37.4 ml/kg in mean duration of 24.2±7.4 hours. Possible complications due to HES 200/0.5 infusion included respiratory failure (13.3%) caused by pleural effusion and ascites; gastrointestinal bleeding (6.6%). No allergic reaction of anaphylactic shock due to HES 200/0.5 infusion and no death was documented. Conclusion: The study provided clinicians HES 200/0.5 solution as an option for treatment of DDS besides crystalloid, dextran because of its effects on hemodynamic, tissue perfusion, improved hemoconcentration and its safety on homeostasis including coagulation, electrolytes, acid-base balance. However, usage of HES 200/0.5 solution for resuscitation of prolonged DSS need further studies to evaluate its effectiveness and safety.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF