Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2010 - Tập 14 - Số 1
KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU KIỂU NỐI ROUX-EN-Y TRONG CẮT TOÀN BỘ DẠ DÀY DO UNG THƯ

Nguyễn Văn Long,Võ Tấn Long, Nguyễn Minh Hải, Lâm Việt Trung, Trần Phùng Dũng Tiến, Nguyễn Tất Đạt, Nguyễn Văn Chinh

TÓM TẮT :

Mở đầu: Trong 20 - 30 năm gần đây ở các nước Châu Âu ghi nhận có phát triển nhanh ung thư dạ dày ở vị trí chỗ nối thực quản - dạ dày. Điều trị phẫu thuật là phương pháp điều trị triệt để bệnh ung thư dạ dày; phẫu thuật cắt toàn bộ dạ dày được chỉ định khi ung thư ở 1/3 trên dạ dày. Ngày nay, sự tái lập lưu thông ống tiêu hóa có nhiều kiểu nối trong đó có kiểu nối Roux-en -Y.
Mục tiêu nghiên cứu: nghiên cứu kết quả phẫu thuật cắt toàn bộ dạ dày với kiểu nối Roux-en-Y và biến chứng, tử vong trong 30 ngày đầu sau mổ.
Phương pháp nghiên cứu: Hồi - tiền cứu 30 trường hợp ung thư dạ dày có chỉ định cắt toàn bộ dạ dày trong thời gian kể từ 1/2008 đến 8/2009 tại khoa ngoại tiêu hóa - BV Chợ Rẫy và BV ĐHYD I.
Kết quả: 30 trường hợp cắt toàn bộ dạ dày gồm: Nam (63,3%) và nữ (36,7%); tuổi trung bình là 59. Vào viện với các triệu chứng như đau âm ỉ thượng vị (96,7%); chán ăn (80,0%) và sụt cân (90,0%). Khám sờ thấy khối u vùng thượng vị với tỷ lệ thấp (13,3%). Nội soi dạ dày chẩn đoán có kết quả loét nhiễm cứng (56,7%); u sùi nhiễm cứng (40,0%) và nhiễm cứng thành dạ dày(3,3%); ở các vị trí thân vị (56,7%), tâm vị (36,7%) và phình vị (6,7%); sinh thiết với kết quả giải phẫu bệnh gồm ung thư biểu mô tuyến (93,3%) và bướu mô đệm thành dạ dày độ ác tính cao (6,7%). X- quang dạ dày có cản quang thực hiện 23 trường hợp (76,7%) nhằm xác định vị trí khối u và tính thâm nhiễm. Mở bụng thám sát, chúng tôi xác định giai đoạn ung thư: giai đoạn II (6,7%); giai đoạn III (43,3%) và giai đoạn IV (50.0%). Chỉ định cắt toàn bộ dạ dày do khối u ở thân vị (60%); tâm vị (33,3%) và phình vị (6,7%). Phẫu thuật triệt để (53,3%) và phẫu thuật làm sạch (46,7%); nạo hạch D1 được chỉ định trong trường hợp ung thư xâm lấn tạng cận bên (T4 hoặc có di căn gan - phẫu thuật làm sạch) và nạo hạch D2 (phẫu thuật triệt để). Nối thực quản vào hổng tràng theo PP Roux - en - Y được thực hiện sau cắt toàn bộ dạ dày. Những phẫu thuật kèm theo như cắt đoạn ruột non (1 t/h - 3,3%); cắt lách (4 t/h - 13,3%); cắt gan trái (1 t/h - 3,3%); khâu tụy (1 t/h - 3,3%) và khâu tụy cùng với cắt lách (2 t/h - 6,7%). Thời gian mổ trung bình là 206,6 phút. Biến chứng gồm 2 bệnh nhân (6,7%); trường hợp thứ nhất có cắt lách và khâu tụy sau mổ có rò tụy (dịch amylase cao) vào ngày thứ 2, diễn tiến áp xe dưới hoành được chỉ định mổ lại ghi nhận có rò ít; được khâu tụy, khâu chỗ rò và sau đó ổn định xuất viện. Trường hợp thứ hai có cắt lách, ống dẫn lưu ra mủ sau đó điều trị nội ổn định xuất viện. Cả hai trường hợp này đều có nhiễm trùng vết mổ (6,7%). Thời gian hậu phẫu trung bình: 10,1 ngày và không có trường hợp nào tử vong.
Kết luận: Nối thực quản - hỗng tràng trong cắt toàn bộ dạ dày theo kiễu nối Roux-en -Y ít biến chứng trong thời gian hậu phẫu, không tử vong, kiễu nối an toàn.

ABSTRACT :

Background: the study show operative results and complications occurring in the first 30 days after total gastrectomy because of stomach cancer.
Objectives: In most Western countries, there has been a rapid rise in the incidence of tumors at or close to the gastrooesophageal junction over the past 20 to 30 years. Based on tumor location and growth pattern, a total gastrectomy is the procedure of choice for patients with middle and proximal third gastric cancer. Roux en - Y oesophagojejunostomy was performed in all patients after radical or palliative total gastrectomy.
Method: Retrospective and prespective study includes 30 total gastrectomy cases from 1/2008 to 8/2009 at Digestive Surgical Department in Cho Ray hospital and Medical University Center I.Results: 19 males (63.3%), 11 females (3.7%), average age is 59 year-old. 
Main complains: Epigastric pain (96.7%); anorexia (80%); weight loss (90%). Clinical findings: Epigastric tumor low (13.3%). Gastric endoscopy: infiltrative ulcer (56.7%) infiltrative fungating tumor (40,0%); infiltrative gasric wall: 3.3% with the tumor located in trunk (56.7%); cardia (36.7%); fundus (6.7%). Histology results include 28 cases (93.3%) of adenocarcinoma and 2 cases (6.7%) of high grade maglinant stoma tumor. Double barium contrast was performed in 23 cases (76.7%). Explorative laparotomy remarked stage II: 2 cases (6.7%); stage III: 13 cases (43.3%) and stage IV: 15 cases (50%). Operative diagnosis were truncal tumor: 60%; cardiac tumor: 3.,3% and fundal tumor: 6.7%. Total gastrectomy includes radical of 53.3% and palliative of 46.7%. Lymph node dissection: D1 in T4, liver metastasis, or in palliative operations and D2 in radical operation. Anastomosis was performed with esophagojejunostomy by Roux-en -Y in all cases. Synchronous procedures: Partial small intestine resection: 1 case (3.3%); splenectomy: 4 cases (1.3%); left hepatectomy: 1 case (3.3%); pancreatic suture: 1 case (3.3%); spenectomy and pancreatic suture: 2 cases (6.7%). Average operative time: 206,6 min. Complications in 2 case: case 1 had pancreatic fistula: after spenectomy and pancreatic suture; progressed to subdiaghram abcess; reoperation: leak in the suture line; manage: reinforce the pancreas; the patient was stable and discharged then. Case 2: the operation included splenectomy, in the postoperative time, the drainage had pus; treatment: internal medicine. All 2 cases had wound infection. Average postoperative time: 1.1 days. No mortality.
Conclusion: The Roux en Y procedure has low complication, no mortality.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF