Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2011 - Tập 15 - Số 2
ĐÁNH GIÁ BƯỚC ĐẦU PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ SA TẠNG CHẬU NỮ CÓ ĐẶT MẢNH GHÉP TỔNG HỢP TẠI BỆNH VIỆN TỪ DŨ

Nguyễn Bá Mỹ Nhi, Phan Thị Nga, Văn Phụng Thống, Nguyễn Thị Vĩnh Thành, Nguyễn Thị Thanh Tâm, Hồ Kỳ Thu Nguyệt, Nguyễn Bá Mỹ Ngọc.

TÓM TẮT :

TÓM TẮTĐặt vấn đề: sa tạng chậu nữ xảy ra do sự suy yếu hệ thống nâng đỡ đáy chậu, gây các rối loạn chức năng khác nhau, ảnh hưởng đến chất lượng sống. Ngày càng nhiều của các bệnh nhân mong mỏi được điều trị nhằm cải thiện lại chất lượng sống, với tỉ lệ tái phát thấp nhất. Phẫu thuật là một trong các phương pháp trị liệu, tuy nhiên các phẫu thuật kinh điển có tỉ lệ thất bại chung khá cao (31,2 %), do đó việc sử dụng một chất liệu tổng hợp không tan là một bước ngoặc lớn nhằm hạ thấp tỉ lệ tái phát.Việc đánh giá hiệu quả và độ an toàn của phẫu thuật điều trị sa tạng chậu có sử dụng mảnh ghép là hết sức quan trọng, nhằm rút ra những kinh nghiệm trong quá trình thực hiện, cung cấp dữ liệu tham khảo cho các nhà lâm sàng.Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: đây là báo cáo hàng loạt ca, đối tượng là các phụ nữ có sa tạng vùng chậu khám tại bệnh viện Từ Dũ, có chỉ định can thiệp phẫu thuật phục hồi sàn chậu có sử dụng mảnh ghép tổng hợp.Kết quả: trong thời gian từ tháng 7/ 2009 - 11/ 2010, qua 132 bệnh nhân ghi nhận tuổi trung bình là 57, số lần mang thai từ 3 con trở lên 79,5%. Tỉ lệ sa bàng quang 90, 2%, sa tử cung 59,8 %, sa trực tràng 30,3%. Phẫu thuật qua ngã nội soi chiếm 16,7%, và qua ngã âm đạo chiếm 83,3%. Thời gian phẫu thuật trung bình qua ngã nội soi 122 phút, qua ngã âm đạo 48 phút (mảnh ghép thành trước), 32 phút (mảnh ghép thành sau), 73 phút (mảnh ghép thành trước và sau). Lượng máu mất trung bình qua nội soi 36 ml, trong khi qua ngã âm đạo là 41 ml (thành trước), 46 ml (thành sau), 56 ml (cả 2 thành); thời gian nằm viện của nội soi trung bình là 4, 2 ngày, còn qua ngã âm đạo 4,4 ngày (thành sau), và 4,6 ngày (cả 2 thành). Tai biến xói mòn âm đạo 3, 03% , 2 ca thủng bàng quang (TOT, TVT), tiểu tồn lưu 12%, 1ca máu tụ thành trái âm đạo, không tổn thương tạng rỗng hay mạch máu lớn, và nhiễm trùng, 3 ca tái phát sau mổ (2 sa bàng quang và 1 sa trực tràng).Kết luận: sử dụng mảnh ghép tổng hợp phục hồi sàn chậu đã được đề nghị sử dụng ngay trong lần mổ đầu tiên, giảm tốn kém do điều trị tái phát, có thể thực hiện sử dụng mảnh ghép ngã âm đạo hay nội soi. Hiệu quả tức thì sau mổ 100%, tỉ lệ tái phát thấp , tỉ lệ tai biến trong mổ, tai biến gần, xa, tương tự các tác giả khác trong y văn, chúng tôi nghĩ rằng phẫu thuật phục hồi sàn chậu có sử dụng mảnh ghép tổng hợp mang tính khả thi, có thể cải thiện và đem lại chất lượng sống tốt hơn cho bệnh nhân sa tạng vùng chậu.

ABSTRACT :

ABSTRACTIntroduction: Female pelvic organ prolapse is caused by weakening to the normal supportive structures of the pelvic and might lead to variety of pelvic floor dysfunctions that affect patient's quality of life. The lowest recurrence rate of therapy was desire of more and more patients to improve their quality of life. Surgery is one of the several therapeutic options, however the traditional surgeries meet the rather high recurrence rate (31,2%). Utilization of the nonabsorbable synthetic mesh in surgery makes the big progression to lower this rate. Assessment of the efficacy and safety of using mesh in surgery for pelvic organ prolapse plays the great important part in getting the experiences of this surgery and providing the clinical physicians with reference data.Methods: This was a case-series of woman affected by pelvic organ prolapse who went to Tu Du Hospital and underwent the pelvic reconstructive surgery using the synthetic mesh.Results: Between 7/2009 to 11/2010, there were 132 of included patients. The average age was 57 years. The rate of having 3 and beyond of deliveries was 79.f5%. The rate of cystocele, hysterocele and rectocele was 90.2%, 59.8 % and 30.3%, respectively. 16.7% and 83.3% of women was operated via laparoscopic and vaginal route, respectively. Individually for the laparoscopic, anterior or posterior or both anterior-posterior vaginal route: the average time of operation was 122 minutes, 48 minutes, 32 minutes and 73 minutes; blood loss was 36 ml, 41 ml, 46 ml and 56 ml; hospital stay was 4.2 days, 4.4 days (posterior vaginal route) and 4.6 days (both anterior-posterior vaginal route). Complication rate of mesh erosion into vagina was 3.03%. Perforation of bladder was present in 2 women with concomitant TOT and TVT procedure. The rate of urinary retention was 12%. There was 1 case of hematoma inside of the left vaginal wall. None of perforations of visceral organs, injuries of large artery or infections at operative site were present. There were 3 cases of post-operative recurrence prolapse (2 of cystocele and 1of rectocele).Conclusions: Application of synthetic mesh in surgery for pelvic reconstruction is suggested in the first time of operation. Using mesh helps reducing treatment cost caused by recurrent prolapse. This surgery can be performed via laparoscopic or vaginal route. The rate of immediate post-operative efficacy was 100%, recurrent prolapse was low, intra-operative and long-term post-operative complications was similar to these of other studies in the literature. We think that utilization of synthetic mesh in surgery for pelvic reconstruction offers the feasibility, can improve and give better quality of life for women who were affected with pelvic organ prolapse.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF