Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2010 - Tập 14 - Số 2
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA BỆNH KÉN KHÍ PHỔI TẠI BV CHỢ RẪY TRONG 10 NĂM (1999-2008)

Nguyễn Công Minh

TÓM TẮT :

Mục tiêu: Cho đến nay, có 3 phương pháp phẫu thuật điều trị kén khí phổi: Cắt bỏ kén khí, cắt giảm thể tích phổi và sau cùng là ghép phổi. Chúng tôi chỉ tiến hành phẫu thuật cắt kén khí qua đường xuyên ngực trước đây hoặc mổ nội soi, sau này. Qua đây, chúng tôi trình bày thực trạng lâm sàng, đánh giá kết quả phẫu thuật cắt kén khí với những kết quả đạt được trong điều trị bệnh lý này tại BV Chợ Rẫy, đó là mục tiêu của công trình. 
Phương pháp nghiên cứu: Trong 10 năm (1999-2008), tại BVCR chúng tôi có 574 BN kén khí hoặc bóng khí trong đó có 438 BN được phẫu thuật và chỉ có 285 BN được phẫu thuật triệt để, chiếm tỷ lệ 54% (295/547). Nam gần gấp 3 nữ (322 BN nam và 116 BN nữ). Tuổi trung bình là 49,5 (nhỏ nhất là 16 tuổi, lớn nhất là 83). BN hút thuốc chiếm đa số, 62%. 
Kết quả: Trong 295 BN điều trị triệt để khâu hoặc cắt kén-bóng khí thì có đến 167 BN được xử trí trong lúc mở ngực vì bệnh lý khác. Chỉ có 128 BN có chỉ định mổ kén khí hoặc bóng khí, chiếm tỷ lệ 43%. Trong 85 BN mở ngực: Cắt kén khí, 51%. Khâu bong khí, 22%. Cắt phần phổi hư hoại cùng kén khí, 15%. Cắt thùy phổi, 12%. Trong 43 BN mổ nội soi: khâu bóng khí đơn thuần 72%. Kết hợp sử dụng stapler 28%. Chức năng hô hấp sau mổ có cải thiện rõ biểu hiện trên định lượng chỉ số FEV1 và dung tích sống, nhất là trên những BN có kén khí to. Biến chứng sau mổ là 16%, nhiều nhất là do tràn khí màng phổi (9%) và xẹp phổi (5%). Tử vong sau mổ là 1,5% do nhiễm trùng nhiễm độc-viêm mủ màng phổi.
Kết luận: Qua công trình nghiên cứu này, chúng tôi nhận thấy nên chỉ định mổ sớm khâu bóng khí hoặc cắt bỏ kén khí ngay khi chức năng phổi còn tốt (phẫu thuật nội soi hoặc mổ mở) tùy tình trạng bệnh lý, đặc biệt là trên những BN chưa có triệu chứng. Có được như vậy thì phần phổi bị chèn ép mới có khả năng hồi phục.Từ khóa: Kén khí phổi. Bệnh lý kén khí phổi. Cắt kén khí phổi.

ABSTRACT :

Objective: Untill now, there is 3 operations for treatment the bullous emphysema: bullectomy, reduction lung volume and lung transplantation at the end-stage emphysema. In the past, we have bullectomy by transaxillary insicion as by video-assisted thoracic surgery in the recent days. The purpose of the study would designed the clinic aspect, the results of sugical treatment of the diseases in ChoRay hospital. 
Methods: During 10 years (between 1999-2008), at Cho Ray hospital, We have 574 bullous and bleb patients, 438 wre surgical indication and only 54% were radical operation (295/547). Male is three times more than female (322 male and 116 female). The mean age was 49,5 years old (range 16-83 years). Most of them are cigarette smokers, 62%.
Results: In 295 radical treatment patients (suture or bullectomy): 167 were performed during thoracotomy as indicated for other diseases. Only 128 patient were operated on the bullous or bleb disease, in 43%. There were 85 patients thoracotomy with: 51% bullectomy, 22% sutured ligation 15% resection the necrotic tissues and lobectomy 12%. There were 43 patients VATS with: 72% simple sutured ligation and 28% tapling device. The lung function were improved on FEV1 and vital capacity, specially on the giant bullous diseases. Postoperative complications were 16%, pneumothorax is the most (9%) and atelectasis (5%). The postoperative mortality rate is 1,5% used to empyema-septicemia. 
Conclusion: On results in our research, early surgical indication is the best with the effective and improved lung function. thoracotomy or VATS to take suture for blebs or bullectomy of the, especially on the asymtomatic patients, the compressed lung will be restored completely.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF