Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2005 - Tập 9 - Số 1
SO SÁNH PHƯƠNG PHÁP CẮT CHỎM NANG THẬN NỘI SOI SAU PHÚC MẠC VÀ QUA PHÚC MẠC

Nguyễn Hoàng Đức, Nguyễn Hoàng Bắc, Trần Lê Linh Phương, Nguyễn Minh Quang

TÓM TẮT :

Mục đích: so sánh hiệu quả điều trị bệnh nang thận của phẫu thuật nội soi cắt chỏm nang ngã sau phúc mạc và qua phúc mạc
Đối tượng - phương pháp nghiên cứu: hồi cứu 35 trường hợp cắt chỏm nang thận nội soi do nhóm tác giả thực hiện tại bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM từ tháng 1 năm 2003 đến tháng 10 năm 2004. Chúng tôi chỉ đưa vào nhóm nghiên cứu những trường hợp có thể lấy đầy đủ hồ sơ bệnh án và chỉ cắt nang thận một bên. Bệnh nhân được chia làm 2 nhóm: nhóm 1 gồm 22 trường hợp cắt chỏm nang thận nội soi ổ bụng và nhóm 2 gồm 13 trường hợp cắt chỏm nang thận nội soi sau phúc mạc.
Mục tiêu nghiên cứu: so sánh thời gian mổ, số ngày nằm viện sau mổ và mức độ đau sau mổ giữa hai nhóm bệnh nhân. Thống kê y sinh học bằng SPSS 12.0
Kết quả: nhóm nghiên cứu gồm 15 bệnh nhân nam và 20 bệnh nhân nữ tuổi trung bình 50 ± 13,7 (nhỏ nhất 17 tuổi; lớn nhất 76 tuổi). Nang thận bên phải chiếm tỷ lệ 51,4% (n=18). Tất cả bệnh nhân đều có triệu chứng đau hông lưng lúc nhập viện. Kích thước trung bình của nang là 73 mm ± 19 (nhỏ nhất 44 mm; lớn nhất 125 mm). Trên hình ảnh siêu âm bụng: 85,7% trường hợp là nang thận đơn giản (Bosniak 1) và 14,3% trường hợp là nang thận phức tạp (Bosniak 2 hoặc 3). Chúng tôi sử dụng đường qua phúc mạc trong 62,9% trường hợp (n=22) và đường sau phúc mạc trong 37,1% trường hợp (n=13). Giữa hai nhóm bệnh nhân hoàn toàn không có sự khác biệt thống kê về thời gian mổ, số ngày nằm viện sau mổ cũng như số ngày sử dụng thuốc giảm đau sau mổ. Sau mổ bệnh nhân được theo dõi bằng siêu âm bụng trong trung bình 12 tuần (ngắn nhất 4 tuần; lâu nhất 48 tuần). Kết quả siêu âm không có trường hợp nào bệnh tái phát trở lại.
Kết luận: hiệu quả điều trị bệnh nang thận bằng phẫu thuật nội soi ổ bụng hoặc phẫu thuật nội soi sau phúc mạc là như nhau.

ABSTRACT :

Objective: to compare between transperitoneal versus retroperitoneal laparoscopic renal cyst unroofing
Material and methods: retrospectively reviewed 35 cases of unilateral laparoscopic renal cyst unroofing done at the Univeristy Medical Centre of HCM City from January 2003 to October 2004. Patients were divided into two groups: group 1 consisted of 22 cases of transperitoneal surgery and group 2 consisted of 13 cases of retroperitoneal surgery.
End-point of study: we compare operation time, post-op stay and time of pain medication requirements between the two groups.
Results: there were 15 male and 20 female patients with a mean age of 50 ± 13,7 years old (range from 17 to 76 years old). Mean size of renal cysts were 73,1mm ± 19,7. Mean operation time was 77,3 minutes ± 24,7 and mean post-op stay was 2,7 days ± 0,4. Both groups were similar in regard to patient age, cyst size and location, operation time, post-op stay and time of pain medication requirements. Mean time of follow-up was 12 weeks. Rate of recurrence was 0% in each group.
Conclusion: laparoscopic renal cyst unroofing is a safe, minimally invasive and effective treatment for symptomatic renal cysts. There was no significant difference in the short-term outcome of transperitoneal vs retroperitoneal approach.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF