Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2005 - Tập 9 - Số 1
KẾT QUẢ CỦA MỘT SỐ THAY ĐỔI KỸ THUẬT TRONG LẤY SỎI THẬN QUA DA

Nguyễn Hoàng Đức, Trần Lê Linh Phương

TÓM TẮT :

Mục đích: đánh giá hiệu quả ban đầu của một số thay đổi kỹ thuật trong lấy sỏi thận qua da tại bệnh viện Đại Học Y Dược TP HCM
Đối tượng - phương pháp nghiên cứu: từ tháng 6 năm 2004 đến tháng 11 năm 2004 chúng tôi đã cải tiến một số kỹ thuật trong lấy sỏi thận qua da: đường hầm vào thận 26Fr, máy soi thận 24Fr và dẫn lưu thận 10Fr. Mục tiêu của nghiên cứu tiền cứu này là thống kê tỷ lệ sạch sỏi ở thời điểm xuất viện, thời gian hậu phẫu và mức độ đau của bệnh nhân. Tiêu chuẩn sạch sỏi: KUB trước xuất viện hoàn toàn không còn sỏi hoặc chỉ còn vụn sỏi < 2mm
Kết quả: chúng tôi có 10 bệnh nhân nam và 12 bệnh nhân nữ, tuổi trung bình 51 ± 11 (nhỏ nhất 34 tuổi; lớn nhất 72 tuổi). Sỏi ở bên phải trong 13 trường hợp và bên trái trong 9 trường hợp. Sỏi bể thận đơn thuần chiếm 31,8%; sỏi bể thận và đài dưới 22,7%; sỏi san hô 18,2%; sỏi khúc nối 9,1%; sỏi đơn thuần đài dưới 9,1%; sỏi đơn thuần đài trên 4,5% và sỏi rải rác nhiều đài là 4,5%. Trung bình kích thước lớn nhất của sỏi là 24,5mm ± 10,3 (thay đổi từ 12 đến 45mm). 54,5% trường hợp chúng tôi vào đài bể thận qua đài dưới; 40,9% qua đài giữa và 4,5% qua đài trên. Tỷ lệ chuyển mổ mở là 4,5%. Thời gian mổ trung bình 97,4 phút ± 29,9 (ngắn nhất 45 phút; lâu nhất 180 phút). Chúng tôi đặt thông JJ xuôi dòng trong 61,9% trường hợp. Ở 31,8% bệnh nhân ống dẫn lưu thận được kẹp liên tục từ ngay sau mổ. Có 2 trường hợp chúng tôi phải nội soi thận gắp sỏi lần hai vào ngày hậu phẫu thứ 3 (tỷ lệ 9,1%). 57,1% bệnh nhân được rút dẫn lưu thận trước khi xuất viện với thời gian trung bình mang ống dẫn lưu là 3,7 ngày ± 1 (biến đổi từ 2 đến 6 ngày). 42,9% trường hợp còn lại được rút dẫn lưu sau khi xuất viện. Tỷ lệ sạch sỏi trước khi bệnh nhân xuất viện là 85,7%. Tỷ lệ truyền máu sau mổ là 4,5%. Tỷ lệ tử vong chu phẫu là 0%. Thời gian hậu phẫu trung bình là 3,7 ngày ± 1 (ngắn nhất 2 ngày; lâu nhất 6 ngày). Thời gian dùng thuốc giảm đau trung bình là 2,5 ngày ± 1 (ngắn nhất 2 ngày; lâu nhất 4 ngày)
Kết luận: phẫu thuật lấy sỏi thận qua da có thể thực hiện được với đường hầm vào thận và dẫn lưu thận kích thước nhỏ. Tỷ lệ sạch sỏi tương tự như các trường hợp lấy sỏi thận qua da cổ điển. Tuy nhiên thời gian nằm viện và mức độ đau ít hơn.

ABSTRACT :

Objective: we evaluated the early results of some modified technics of PCNL
Materials and methods: between June 2004 to November 2004, 22 patients underwent PCNL at the University Medical Centre with some modified technics: small bore working sheath and post-op drainage.
End-point of study: stone free rate on discharge, post-op stay and time of pain medication requirements.
Results: there were 10 male and 12 female patients with a mean age of 51 yo ± 11. Renal pelvic stones consisted of 54,5% and staghorn stones consisted of 18,2% of cases. Mean biggest size of stones was 24,5mm ± 10,3. Mean operation time was 97,4 minutes ± 29,9. Stone free rate on discharge was 85,7%. Mean post-op stay was 3,7 day ± 1 and mean time of pain medication requirements was 2,5 day ± 1
Conclusion: PCNL could be done with small size working sheath and post-op drainage. These modified technics did not aftected to the stone free rate but decreasing the post-op stay and length of pain medication requirements.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF