Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2011 - Tập 15 - Số 3
NỘI SOI Ổ BỤNG MỘT VẾT MỔ MỞ NIỆU QUẢN LẤY SẠN VÀ TẠO HÌNH KHÚC NỐI BỂ THẬN-NIỆU QUẢN: KINH NGHIỆM BAN ĐẦU

Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng, Chung Tuấn Khiêm, Phạm Phú Phát, Đỗ Vũ Phương, Vũ Lê Chuyên

TÓM TẮT :

Mục tiêu: Báo cáo và đánh giá tính khả thi, độ an toàn của phẫu thuật nội soi ổ bụng một vết mổ (LaparoEndoscopic Single-Site, LESS) mở niệu quản lấy sạn và tạo hình khúc nối bể thận-niệu quản lần đầu tiên thực hiện tại khoa Niệu C bệnh viện Bình Dân.Tư liệu và phương pháp nghiên cứu: Trình bày 13 trường hợp mổ mở niệu quản lấy sạn và tạo hình khúc nối bể thận niệu quản qua nội soi ổ bụng một vết mổ ở rốn từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2010. Bệnh nhân nằm ở tư thế mổ thận biến đổi hoặc nằm ngửa. Rạch da dài 2 cm qua rốn hay theo đường vòng cung ở rốn, đặt một trocar 10mm Storz(r) ở rốn cho máy soi và 2 trocar ở quanh rốn (một 10mm và một 5mm) cho dụng cụ. Những trường hợp sau chúng tôi dùng SILS Port(tm) (Covidien) và dụng cụ bẻ cong chuyên dụng để phẫu tích. Tiến hành hạ góc đại tràng vào vùng sau phúc mạc, tìm và phẫu tích niệu quản lưng (trong sạn niệu quản trên hay tạo hình khúc nối) hay chậu (trong sạn niệu quản chậu). Mở niệu quản lấy sạn, đặt thông niệu quản lưu, khâu lại niệu quản. Trong hẹp khúc nối bể thận niệu quản sẽ đặt thông JJ ngay sau khi gây mê bệnh nhân trong phòng mổ, tạo hình khúc nối trên thông JJ tại chỗ. Kết thúc phẫu thuật các trocar được rút ra và gắp sạn ra ngoài qua lỗ trocar rốn, đặt ống dẫn lưu qua lỗ trocar rốn. Bệnh nhân được đánh giá và dữ liệu thu thập trong và sau cuộc mổ.Kết quả: Có 10 bệnh nhân nam và 3 bệnh nhân nữ. Tuổi trung bình: 38 (26-48). ASA trước mổ: I: 8/12, II: 4/12, III: 1/12. Hẹp khúc nối bể thận-niệu quản: 6 (Trái: 3, Phải: 3), Sạn niệu quản: 6 (Trái:2, Phải:4), Sạn bể thận (khúc nối):1. Thời gian mổ trung bình: 116,6 phút (80-180). Lượng máu mất trung bình: 33,3mL (10-50). Không có trường hợp nào chuyển sang nội soi ổ bụng cổ điển hay chuyên mổ hở. Một trường hợp tạo hình cắt rời khúc nối bể thận niệu quản phải dùng thêm port phụ 5 mm. Thời gian mang ống dẫn lưu: 3,15 ngày (2-4). Thời gian nằm viện sau mổ: 3,25 ngày (2-4). Biến chứng sau mổ: 1 trường hợp chảy máu vết trocart rốn được khâu cầm máu. Kết luận: Tuy phẫu thuật nội soi một vết mổ mới chỉ được ứng dụng rất gần đây, kết quả của chúng tôi trong các bệnh lý sạn niệu quản và hẹp khúc nối bể thận-niệu quản là rất đáng khích lệ với tỉ lệ biến chứng thấp. Cần thêm số liệu nghiên cứu để xác nhận vai trò của phẫu thuật LESS.

ABSTRACT :

Objective: Report and assess the feasibility and safety of LaparoEndoscopic Single-Site (LESS) ureterolithotomy and pyeloplasty initially performed at the Department of Urology C, Binh Dan hospital. Materials and Method: From January to April 2010, 13 patients underwent LESS ureterolithotomy or pyeloplasty. Patients were placed in the modified nephrolithotomy or supine position. A transumbilical or periumbilical skin incision of 2 cm was made for insertion of 3 standard trocars (2 trocars Storz(r) 10mm and one trocar Storz(r) 5mm) or a SILS Port(tm) of Covidien. Standard and roticular laparoscopic instruments (roticular EndoDissect 5mm, EndoGrasp 5 mm, EndoShears 5mm) were used for dissection-section during the procedures. Colon reflection for accessing the retroperitoneum. Dissection of the proximal or distal ureter, ureterolithotomy, placement of an ureteral stent, and ureteral suturing. In case of pyeloplasty, an intraoperative cystocopy and placement of a DJ stent were done after general anesthesia and pyeloplasty performed over the in-site DJ stent. At the end of the procedure, the trocars were removed, the stone retrieved through the umbilicus and a drain placed the umbilicus. Patients were assessed and data recorded. Results: There were 10 male and 3 female patients. Mean age: 38 (26-48). ASA score: I: 8/12, II: 4/12, III: 1/12. LESS pyeloplasty: 6 (Left: 3, Right: 3), LESS ureterolithotomy: 6 (Left: 2, Right:4), LESS pyelolithotomy: 1. Mean operating time: 116.6 mins (80-160). Mean estimated blood loss: 33.3 mL (10-50). There was no conversion to standard laparoscopy or open surgery. One additional port of 5 mm was required in 1 dismembered pyeloplasty for suturing. Drain removal in 3.15 days (2-4). Postoperative hospital stay: 3.25 days (2-4). Postoperative complications: 1 bleeding at umbilical site requiring hemostatic suturing. Conclusions: Although LESS surgery is recently applied in Urology, our outcomes in LESS ureterolithotomy and pyeloplasty is encouraging with low rate of complications. Further studies are needed to better define the appropriate role of LESS surgery.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF