Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2009 - Tập 13 - Số 2
SO SÁNH ĐỘ NHẠY VÀ ĐỘ ĐẶC HIỆU GIỮA XÉT NGHIỆM ELISA VÀ XÉT NGHIỆM LY TRÍCH ĐIỆN DI RNA TRONG CHẨN ĐOÁN VI-RÚT ROTA

Lý Văn Xuân

TÓM TẮT :

Mục tiêu: So sánh độ nhạy và độ đặc hiệu của xét nghiệm ELISA với độ nhạy và độ đặc hiệu của xét nghiệm ly trích điện di RNA từ phân trong chẩn đoán tiêu chảy cấp do vi-rút Rota ở trẻ em. Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang và so sánh. Đối tượng nghiên cứu là 207 mẫu phân của trẻ em bị tiêu chảy cấp được nhập viện điều trị tại khoa Tiêu hóa Bệnh viện Nhi đồng 1 - TP. Hồ Chí Minh. Xét nghiệm PCR được sử dụng làm tiêu chuẩn vàng. Công cụ dùng để phân tích và xử lý số liệu là phần mềm Epi Info 6.04 và sử dụng phép kiểm 2 để so sánh các tỉ lệ. Kết quả: Qua xét nghiệm 207 mẫu phân bằng kỹ thuật PCR, ELISA và ly trích điện di RNA cho kết quả như sau: có 89 trường hợp (tỉ lệ 43,00%) dương tính xác định bằng kỹ thuật PCR, 99 trường hợp (tỉ lệ 47,83%) dương tính xác định bằng kỹ thuật ELISA và 86 trường hợp (tỉ lệ 41,55%) dương tính xác định bằng kỹ thuật ly trích điện di RNA. Phân tích 89 trường hợp dương tính xác định bằng kỹ thuật PCR cho thấy chỉ có 75 trường hợp (tỉ lệ 84,27%) cho kết quả dương tính bằng kỹ thuật ELISA và 72 trường hợp (tỉ lệ 80,90%) cho kết quả dương tính bằng kỹ thuật ly trích điện di RNA. Phân tích 118 trường hợp âm tính xác định bằng kỹ thuật PCR cho thấy chỉ có 96 trường hợp (tỉ lệ 81,36%) cho kết quả âm tính bằng kỹ thuật ELISA và 103 trường hợp (tỉ lệ 87,29%) cho kết quả âm tính bằng kỹ thuật ly trích điện di RNA. So sánh tỉ lệ kết quả xét nghiệm dương tính giữa kỹ thuật PCR (tỉ lệ 43,00%), kỹ thuật ELISA (tỉ lệ 47,83%) và kỹ thuật ly trích điện di RNA (tỉ lệ 41,55%) cho thấy sự khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p = 0,40). So sánh độ nhạy của xét nghiệm ELISA (84,27%) và độ nhạy của xét nghiệm ly trích điện di RNA (tỉ lệ 80,90%) cho thấy sự khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p = 0,53). So sánh độ đặc hiệu của xét nghiệm ELISA (81,36%) và độ đặc hiệu của xét nghiệm ly trích điện di RNA (tỉ lệ 87,29%) cho thấy sự khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p = 0,32). Kết luận: Qua xét nghiệm chẩn đoán vi-rút Rota ở 207 mẫu phân của trẻ em bị tiêu chảy cấp được nhập viện điều trị tại Khoa Tiêu hóa Bệnh viện Nhi đồng 1 - TP. Hồ Chí Minh, chúng tôi nhận thấy tỉ lệ phát hiện vi-rút Rota từ phân ở xét nghiệm PCR là 43,00%, ở xét nghiệm ELISA là 47,83% và ở xét nghiệm ly trích điện di RNA là 41,55%. So sánh các tỉ lệ xét nghiệm trên bằng phép kiểm 2 cho thấy sự khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p = 0,40). Độ nhạy của xét nghiệm ELISA là 84,27%, độ nhạy của xét nghiệm ly trích điện di RNA là 80,09%. Không có sự khác nhau có ý nghĩa thống kê về độ nhạy của xét nghiệm ELISA và của xét nghiệm ly trích điện di RNA (p = 0,53). Độ đặc hiệu của xét nghiệm ELISA là 81,36%, độ đặc hiệu của xét nghiệm ly trích điện di RNA là 87,29%. Không có sự khác nhau có ý nghĩa thống kê về độ đặc hiệu của xét nghiệm ELISA và của xét nghiệm ly trích điện di RNA (p = 0,21). Do đó, bên cạnh xét nghiệm ELISA, xét nghiệm ly trích điện di RNA từ phân có thể sử dụng để chẩn đoán vi-rút Rota trong bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em vì giá thành rẻ, quy trình kỹ thuật không đòi hỏi hóa chất, thiết bị phức tạp.

ABSTRACT :

Purpose: To compare the sensitivity and the specificity of ELISA technique with those of RNA electrophoresis in diagnosis for Rotavirus in stool from children who had acute diarrhea. Method: Cross-sectional descriptive study. Objects of study are 207 samples of stool from children who were treated acute drarrhea in the digestive department of Nhi Dong 1 Hospital in Ho Chi Minh City. PCR technique is used as gold standard. The software Epi Info 6.04 and 2 test are used for data analysis and comparison. Results: Testing 207 samples of stool by PCR, ELISA and RNA electrophoresis techniques, we notice that: There are 43.00% positive tests done by PCR technique, 47.83% positive tests done by ELISA technique and 41.55% positive tests done by RNA electrophoresis technique. Analyzing 89 cases tested positive by PCR technique, there are only 75 cases (84.27%) tested positive by ELISA technique and 72 cases (80.90%) tested by RNA electrophoresis technique. Analyzing 118 cases tested negative by PCR technique, there are only 96 cases (81.36%) tested negative by ELISA technique and 103 cases (87.29%) tested by RNA electrophoresis technique. To compare the rate of positive cases (43.00%) tested by PCR technique with the rate of positive cases (47.83%) tested by ELISA technique and the rate of positive cases (41.55%) tested by RNA electrophoresis technique, there is no difference in statistics (p = 0.40). To compare the sensitivity between ELISA technique (84.27%) and RNA electrophoresis technique (80.90%), there is no difference in statistics (p = 0.53). To compare the specificity between ELISA technique (81.36%) and RNA electrophoresis technique (87.29%), there is no difference in statistics (p = 0.21). Conclusions: Testing 207 samples of stool from children who were treated acute diarrhea in the digestive department of Nhi Dong 1 Hospital in Ho Chi Minh City, we notice that: There are 43.00% positive tests done by PCR technique, 47.83% positive tests done by ELISA technique and 41.55% positive tests done by RNA electrophoresis technique. These rates have no difference in statistics (p = 0.40). The sensitivity of ELISA technique is 84.27%, the sensitivity of RNA electrophoresis technique is 80.90%. These rates have no difference in statistics (p = 0.53). The specificity of ELISA technique is 81.36%, the specifity of RNA electrophoresis technique is 87.29%. These rates have no difference in statistics (p = 0.21). Therefore, beside ELISA technique, RNA electrophoresis technique should be used in the laboratories which have no sufficient instruments and for low spending cost.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF