Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2009 - Tập 13 - Số 6
BƯỚU ÁC NHÃN CẦU VÀ HỐC MẮT Ở NGƯỜI LỚN: LÂM SÀNG VÀ ĐIỀU TRỊ

Cung Thị Tuyết Anh, Phạm Lương Giang, Hồ Văn Trung, Trần Minh Bảo Hiến, Nguyễn Quốc Điền, Trần Thị Xuân

TÓM TẮT :

Mục tiêu: Khảo sát các khía cạnh lâm sàng, bệnh học và điều trị của 67 trường hợp bướu ác nhãn cầu và hốc mắt ở người lớn, điều trị tại bệnh viện Ung bướu TP HCM từ năm 2003 - 2005. Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu hồ sơ bệnh án và báo cáo loạt ca. Kết quả: Các bệnh nhân có tuổi trung bình 57, có những loại bướu sau: Lymphôm hốc mắt (38,8%); carcinôm tế bào gai (22,4%) chủ yếu ở kết mạc, mêlanôm (16,4%) đa số nằm trong nhãn cầu; bướu của tuyến lệ gồm carcinôm tuyến (9%), carcinôm bọc dang tuyến (7,5%), carcinôm nhầy bì (1,5%); bướu vỏ bao thần kinh ác (3%), sarcôm cơ vân (1,5%) nằm trong hốc mắt. Thời gian từ lúc có triệu chứng đến khi chẩn đoán trung bình là 16 tháng. Ngoại trừ lymphôm hốc mắt được điều trị bằng hóa trị và xạ trị, các loại bướu khác đều được can thiệp phẫu thuật, trong đó phẫu thuật bảo tồn mắt chỉ chiếm 17,1%, múc mắt và nạo vét hốc mắt 75,6%. Số bệnh nhân có xa trị bổ túc là 41,8%. 92,3% bệnh nhân lymphôm hốc mắt được hóa trị toàn thân. Nhìn chung, tỷ lệ bệnh nhân không điều trị đầy đủ theo phác đồ là 32,8%. Kết luận: Có nhiều loại bệnh khác nhau xuất phát từ các vị trí khác nhau của nhãn cầu và hốc mắt. Đa số bệnh nhân ở tuổi trung niên trở lên, có bệnh sử khá lâu trước khi nhập viện, bệnh thường tiến triển nên việc bảo tồn mắt khó thực hiện. Bên cạnh sự cần thiết có các loại trang thiết bị chuyên dùng để điều trị bảo tồn nhãn cầu và thị lực (ví dụ: Xạ trị áp sát bằng 125I), sự kết hợp chặt chẽ giữa các bác sĩ chuyên khoa mắt và chuyên khoa ung bướu là hết sức cần thiết và việc giáo dục sức khỏe cộng đồng về các bệnh của mắt sẽ giúp các trường hợp bướu ác của mắt được phát hiện sớm hơn và hiệu quả điều trị sẽ tốt hơn.

ABSTRACT :

Objective: We study the clinical, pathological and therapeutic features of 67 patients having malignant tumor in the eye or in the orbit, treated in the Ho Chi Minh City Oncology Hospital from 2003 to 2005. Method: Retrospective analysis of a serie of cases. Results: There were 37 male and 30 female patients with the mean age of 57. Their tumors were distributed as follow: orbital lymphomas (38.8%); squamous cell carcinomas (22.4%), most of the cases were in the conjunctiva; melanomas (16.4%), of which the localisation was essentially intraocular; tumors of the lacrymal gland with adenocarcinoma (9%), adenoid cystic carcinoma (7.5%), muco-epidermoid carcinoma (1.5%); few orbital sarcomas with 2 cases of malignant neurilemmoma, and 1 case of rhabdomyosarcoma. The average time from the onset of symptoms until the diagnosis was 16 months. Except the malignant lymphomas, which were treated with chemotherapy and radiotherapy, all the remaining tumors were operated; among them, conservative surgery was performed in only 17.1%; enucleation or large exenteration was done in 75.6%. Adjuvant radiation therapy was given to 41.8% of cases. Chemotherapy was administered to 92.3% of lymphoma patients. In general, 32.8% of cases did not achieve the treatment protocol. Conclusion: There are various types of malignants tumors of the eye and the orbit which require different types of treatment. Most of the patients were old with long history of onset, the cancer was usually in advanced stages, so the conservative therapies were hard to performed. Beside the needs of specific equipments (e.g. 125I brachytherapy discs), a tight cooperation between ophthalmologists and oncologists as well as a good education on diseases of the eyes to people are very necessary to improve the outcome of such malignant tumors of this organ.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF