Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2012 - Tập 16 - Số 1
KẾT QUẢ DÀI HẠN PHẪU THUẬT CẦU NỐI ĐỘNG MẠCH CHỦ NGỰC – ĐỘNG MẠCH CẢNH – DƯỚI ĐÒN

Đỗ Kim Quế*, Chung Giang Đông*

TÓM TẮT :

Đặt vấn đề: Hẹp các nhánh của cung động mạch chủ là một bệnh lý khá hiếm gặp, nguyên nhân đa dạng, chẩn đoán và xử trí còn nhiều khó khăn. Phẫu thuật cầu nối động mạch chủ ngực – động mạch cảnh – dưới đòn là phương pháp điều trị hiệu quả cho bệnh lý hẹp nhiều nhánh của cung động mạch chủ.

Mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi nhằm đánh giá kết quả dài hạn của phẫu thuật cầu nối động mạch chủ ngực – động mạch cảnh – dưới đòn trong điều trị bệnh lý hẹp nhiều nhánh của cung động mạch chủ.

Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ bệnh nhân bị hẹp nhiều nhánh của cung động mạch chủ được điều trị phẫu thuật cầu nối động mạch chủ ngực – động mạch cảnh – dưới đòn tại Bệnh viện Chợ rẫy và bệnh viện Thống nhất trong thời gian 12 năm từ 1997 – 2011.

Phương pháp nghiên cứu: Tiền cứu. Thử nghiệm lâm sàng không đối chứng. Chẩn đoán thương tổn dựa trên siêu âm Doppler, CT đa lát cắt và X quang động mạch. Chỉ định phẫu thuật cho những trường hợp có triệu chứng lâm sàng, hẹp > 80% động mạch.

Kết quả: Trong thời gian từ 10/97 đến 10/2009 chúng tôi đã điều trị phẫu thuật cầu nối động mạch chủ lên – cảnh dưới đòn cho 12 trường hợp BN bị hẹp nhiều nhánh của cung động mạch chủ. 4 trường hợp hẹp thân động mạch tay đầu. 4 trường hợp hẹp động mạch cảnh T và động mạch dưới đòn trái, 4 trường hợp hẹp cả 3 nhánh cung động mạch chủ. 12 bệnh nhân có triệu chứng thiếu máu não, 10 bệnh nhân có dấu hiệu thiếu máu nuôi tay mạn tính. 6 trường hợp hẹp do Takayashu, 6 trường hợp tổn thương do xơ vữa động mạch. Tất cả các trường hợp đều được chẩn đoán dựa trên CT đa lát cắt và X quang động mạch. 2 trường hợp hẹp 99% các trường hợp còn lại tắc hoàn toàn. 12 trường hợp được mổ với chẻ dọc phần trên xương ức. Phẫu thuật cầu nối động mạch chủ - cảnh, dưới đòn cho 7 trường hợp ; cầu nối chủ cảnh, dưới đòn 2 bên cho 4 trường hợp; Cầu nối động mạch thân tay đầu - cảnh dưới đòn 1 trường hợp. Không có trường hợp nào tử vong, 1 trường hợp nhiễm trùng vết mổ. Theo dõi từ 7 tháng – 43 tháng chưa có trường hợp nào hẹp tái phát.

Kết luận: Tắc/ hẹp nhiều nhánh của cung động mạch chủ là một tổn thương khá hiếm gặp. Đường mổ chẻ dọc phần trên xương ức cho phẫu trường tốt để thực hiện phẫu thuật cầu nối trong lồng ngực. Phẫu thuật cầu nối động mạch chủ lên cảnh dưới đòn là phương pháp diều trị đem lại kết quả tốt cho người bệnh hẹp nhiều nhánh của cung động mạch chủ.

ABSTRACT :

LONG-TERM RESULTS OF AORTO-CAROTIDO-SUBCLAVIAN BYPASS FOR COMPLEX STENOSIS OF THE BRANCHES OF THE AORTIC ARCH

Do Kim Que, Chung Giang Dong * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 16 - Supplement of No 1 - 2012: 51 - 56

Objectives: The complex stenosis of the branches of the aortic arch is rare, it was the challenge for vascular surgeon to manage. The purpose of this study was review our experience with diagnosis and surgical treatment for complex stenosis of the branches of the aortic arch.

Methods: Prospective. Eveluate the clinical characteristics of complex stenosis of the branches of the aortic arches. Diagnosis was based on Dupplex scanning, MSCT and angiography. Intrathoracic bypass was indicated for all cases.

Results: From 10/1997 to 10/2009, twelve patients with complex stenosis of the branches of the aortic arch were treated in Choray hospital and Thong nhat hospital. 4 cases stenosis the carotid and the subclavian artery; 4 cases have stenosis the branchiocephalic artery; and 4had stenosis all of the branches of the aortic arch. 10 cases admission because of chronic upper extremity ischemia. 12 cases had TIA. Takayashu’s disease affected in 6 cases, atherosclerosis was the cause of 6 patients. All of patients were diagnosed by Duplex scan, MSCT and arteriography. 2 cases had 99 percent stenosis, the others had completely occlusion. Upper partial sternotomy were performe in all cases.; Aorto carotido-subclavian bypass in 7 cases; Aorto bi-carotid bi-subclavian bypass were performed in 4 cases; Branchiocephalo carotid and subclavian bypass in 1 case, PTFE prothesis graft was used in 2 cases. Dacron prothesis was used in the rest. No procedure-related mortality was observed. No stroke. There are 1 wound infection, No restenosis after 7 –43 months follow up.

Conclusions: Upper partial sternotomy is very good approach for intrathoracic bypass surgery. Ascending aorto carotido-subclavian bypass should be done for stenosis of multi-branches.


Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF